Việt Nam bị chiến tranh dai dẳng mấy mươi năm, và trong lúc đó, lắm chuyện xảy ra rất buồn cười. Có một sự thật 100% làm chúng ta phải suy ngẫm giữa việc công và tình tư, khó mà phân tích xưng hô như thế nào cho phải lẽ.

Một thanh niên đang học đại học, bị gọi nhập ngũ trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi ra làm quan đến Thiếu tá. Thời gian 10 năm sau, vì cuộc chiến quyết liệt, chánh phủ phải kêu nhập ngũ những người lớn tuổi, thế là cha ông cũng phải làm nghĩa vụ quân sự. Sau nhiều lần được bổ đi nhiều nơi, cuối cùng, ông lại được bổ đến đơn vị do con ông chỉ huy.

Một hôm, vợ ông lên thăm ông, mà cũng thăm thằng con Thiếu Tá của bà. Ông mừng rỡ chạy vào văn phòng báo cáo. Ông nện gót giày bộp bộp nghiêm chỉnh, hai chân chụm lại cái rụp, tay phải đưa lên chào theo quân luật, miệng nói: “Chào Thiếu Tá!”.

Thiếu Tá day lại, hỏi: “Có chi, thưa Thượng sĩ?”

Ông trả lời: “Thưa Thiếu Tá, có má mầy lên.”

Câu chuyện đơn sơ mà bao hàm hai ý nghĩa đặc biệt:

- Nghĩa thứ nhứt là, ông làm nhiệm vụ một quân nhân, đối với thượng cấp, ông phải kỉnh cái chức vụ nhà nước đặt cho ông, nên ông nghiêm chỉnh lễ lộc theo quân cách, phải dạ thưa con mình một cách cung kính.

- Nghĩa thứ hai là, ông báo cáo cho thằng con ông với tư cách cá nhân chớ không phải chức vụ của nhà nước nữa, ông cho nó hay là "má nó" lên thăm "nó" và ông là cha nó nên ông kêu nó bằng “mầy”. Tại sao lại nói: “Có má mầy lên” mà không nói “Có má Thiếu Tá lên?”
Ông lính già nầy tế nhị chớ không phải lôi thôi đâu!

Nếu nói "Má Thiếu Tá lên" thì sao ông là cha của nó mà lại phải chào nó, phải dạ thưa với nó? Ông phân tích nhiệm vụ công cộng của quốc gia với nhiệm vụ cá nhân của gia đình một cách rõ rệt. Ông không ỷ lại ông là cha Thiếu Tá mà vào văn phòng không nghiêm chỉnh cẩu thả kêu con: “Hai ơi, hay Tám ơi! Má mầy lên thăm mầy kìa”, hay kêu tên tục của Thiếu Tá. Nếu tên tục mà đẹp thì không sao nhưng nếu rủi mang tên Đực hay Đẹt thì vô tình làm giảm uy tính của một Sĩ Quan, tức danh dự của Tổ Quốc; nên ông phải nện gót giày, đứng nghiêm giơ tay chào, còn dạ thưa lễ phép, còn thốt rằng: “Thưa Thiếu Tá” cho nó phải lẽ của một tên lính nói chuyện với ông quan.

Tới câu “Có má mầy lên”, ông đặt Thiếu Tá vào việc tư rồi, việc gia đình của ông, vì ông làm cha, ông phải kêu nó bằng "mầy","má mầy tức là vợ tao", lúc đó ông cho con một tin mừng là cha con ta sẽ ăn một bữa cơm ngon lành trong cảnh trùng phùng mà bấy lâu đã ao ước; sẽ hàn huyên, tâm sự, sẽ han hỏi thân nhân, xóm giềng, sự học hành của anh em, con cháu v.v…

*******

Luận việc Đạo:


Công việc trên bắt ta liên tưởng tới việc Đạo. Có nhiều Chức Sắc về gia đình đối với cha mẹ cứ nghĩ mình không phải là con nữa, rồi bất kỉnh với song thân, hóng hách với cô bác xóm giềng. Còn xóm giềng cô bác, cha mẹ lại không dám kêu tên tục của Chức Sắc, việc ấy làm mất cảm tình không phải là ít.

Noi gương Đức Hộ Pháp, chúng ta nên lột lớp công ra ngoài để đi vào việc tư, thì sự hạ mình ấy chẳng những không làm sứt mẻ uy tín mà còn làm tăng thêm sự cảm mến của quần chúng là khác.

- Gương thứ nhứt:

Mỗi năm, đến ngày cúng đình, Đức Ngài mặc khăn đen, áo dài đen đến Đình Long Thành để lạy ông Thần Hoàng Bổn Cảnh, cùng tâm sự với Hương Chức, Hội Tề. Ngài nói: “Tôi thuở nhỏ sanh trưởng tại đây, cũng nhờ ông Thần phò hộ nên mới mạnh giỏi mà học hành, lớn lên nên danh phận cũng nhờ ổng, nên tôi nhơn danh cá nhân tôi đến lạy ổng để đền ơn”.

Gương ấy làm cho bao người tỉnh ngộ, giảm bớt tính tự kiêu, tự đại. Hơn nữa, chúng ta đã biết Đức Di Lạc Vương Phật là vị Phật cao nhứt trong hàng Phật mà khi đến với Phật Mẫu cũng phải quì, tức là Ngài lấy cái tư mà đối đãi cùng Bà Mẹ Thiêng Liêng chớ không nghĩ là ngôi cao quyền lớn mà không thủ phần hiếu thảo.

Vậy, dầu cách vật xử thế hay mang Thiên mạng nơi mình, chúng ta nên để cho phải chỗ cái công, cái tư cho phân biệt. Nên chi, Phật Mẫu chỉ muốn ta mặc bạch y mà hầu Bà. Trước Phật Mẫu, dầu trai gái cũng thảy là con, kẻ sang, kẻ hèn, kẻ trí, kẻ ngu bà không phân khinh trọng. Bà còn thương đứa cô thế khổ não bần hàn hơn người quyền cao tước cả.

- Gương thứ hai:

Đức Ngài dự đám tang của bà nhạc mẫu ông Hồ Tấn Khoa (lúc ấy, lối năm 1950, Ngài Bảo Đạo còn là Hiền Tài). Chức Sắc từ Chánh Phối Sư đến Giáo Hữu rất đông, đều mặc trường y theo Ngài để cầu nguyện, có cả vài vị Thời Quân tùy tùng. Ai nấy tưởng Ngài thấp hương trước linh sàn cầu nguyện rồi xá thôi, nào dè, Ngài nói: “Bần Đạo nhơn danh là bạn của Khoa, mẹ Khoa tức mẹ Bần Đạo”, rồi Ngài sụp xuống lạy. Cả Chức Sắc đứng sau lưng Ngài đều lạy.

Cử chỉ cao đẹp ấy làm gia đình bên bà Khoa, nhứt là kỹ sư Nam xúc động. Họ nhỏ to nhau: "Thật hạnh phúc cho bà già, được cả Hội Thánh Cao Đài cầu nguyện và tin rằng bà sẽ được siêu thoát nhờ ân đức của Đức Hộ Pháp". Biết đâu, Ngài Hồ Bảo Đạo hy sinh trọn vẹn cho Đạo hôm nay là nhờ học tâm lý hạ mình từ Đức Hộ Pháp, Ngài đã lấy tính cách cá nhân mà không lấy quyền của Ngự Mã Thiên Quân để giáo dục mọi người.

Nếu khách bàng quan phê phán ông Giáo Chủ đi lạy một người đời thì giá trị của Đức Ngài càng tăng vọt, vì người đời ấy là mẹ của bạn ông, ông xem như chính mẹ ông, chỉ để trọn tình bạn tác.

- Gương thứ ba:


Khi Bà thân mẫu của ông Thánh Đỗ Quang Hiển qui vị, Đức Hộ Pháp ra điếu tang, đứng trước linh sàn và nói: “Bần Đạo hôm nay đến đây để biết ơn một vị đã tạo cho Đạo Cao Đài một ông Thánh”. Rồi Ngài quì lạy trước sự ngạc nhiên của mọi người.

- Gương thứ tư:

Khi Thừa Sử Phạm Ngọc Trấn qui vị, linh cửu quàng tại văn phòng Hiệp Thiên Đài, Đức Hộ Pháp đến, bước vào và nói: “Bần Đạo lạy Trấn vì Trấn đã lắm công phu với Đạo”.

Ngài Trần Khai Pháp kéo Ngài lại và nói: “Xin Đức Ngài để tôi thay Ngài mà lạy Trấn”.

Thật là Thầy nào trò nấy, cử chỉ của Đức Hộ Pháp đẹp bao nhiêu thì cử chỉ của Ngài Khai Pháp cũng đẹp bấy nhiêu. Gương sáng trong Đạo Cao Đài đã để trước mắt.

Chúng ta hãy cởi cái tước quyền gởi một bên mà làm phận sự Thầy trò, bạn tác hay phận sự cá nhân đối với đồng bào ngoại đạo. Cái ý nghĩa đó, chúng ta mới đi mau đến thuyết đại đồng nhơn loại. Trái lại, nếu bo bo nói, rầy Chức Sắc không nên lạy kẻ thấp hơn mình hay kẻ ngoại đạo thì biết chừng nào mới trọn câu phổ độ
!

Quang Minh