“Thái tử Tất-đạt-đa tử bỏ mọi tiện nghi để sống cuộc đời khất thực là cách không bám víu vào bản năng sinh tồn; từ bỏ gia đình là cách chối bỏ bản năng truyền giống; hòa mình với Đạo Đức để đi tìm Sự Thật là cách đương đầu với vô thường và hóa giải bản năng sợ chết. Đức Phật không hề hợp tác với vương quyền, cũng không liên kết với một vị Thầy tâm linh nào cả. Nhiều bài kinh thuật lại vua chúa đương thời tìm Đức Phật để tham vấn và học hỏi, các giáo sĩ Bả-la-môn và đạo Ja-in tìm Ngài để nghe giảng và xin được làm đệ tử của Ngài. Không ai có thể biến Giáo Huấn của một con người đã từ bỏ tất cả thành một phương tiện phục vụ cho mình hay bất cứ một quyền lực nào.

Giáo Huấn của Đức Phật chỉ mang mục đích duy nhất là phục vụ tất cả chúng sinh, không phân biệt một chúng sinh nào. Sức mạnh tàng ẩn bên trong Giáo Huấn đích thật đó sẽ giúp người tu tập vượt lên trên tất cả ba thứ bản năng "sinh tồn", "truyền giống" và "sợ chết". Kín đáo nhưng cũng thật bao la, sức mạnh [vô úy, uy vũ bất năng khuất, Trứ] đó không ai có thể bẻ cong, "công cụ hóa," hay [quốc doanh hóa, Trứ] được.”

(Trích: Tại Trung Quốc Chính Quyền Công Cụ Hóa Phật Giáo Đổi Mới, Hoang Phong chuyển ngữ - En Chine, le pouvoir instrumentalise le renouveau Bouddhisme, Ji Zhe)

Tôi đồng ý với quan điểm trên của giáo sư tiến sĩ Ji Zhe dạy ở Pháp Quốc và xin bổ túc,

“Phật Giáo có phương pháp quán tự tại, vô sở vô trụ để thấy tự tâm, kiến được cái bản lai diện mục của chính mình. Tự tánh của chúng ta đầy trí tuệ, bi trí dũng viên dung và nhất là bất khả úy. Vô úy là đức tính cần thiết của mỗi cá nhân để đối diện với phiền não của cuộc đời. Tuy đạo Phật nói đời là bể khổ nhưng không phải vậy rồi bi quan, sợ hãi mà phải tự lực trực diện đối phó với nó.” (Vô Úy, Lê Huy Trứ)

Phật Giáo được xem là thành phần bất khả phân của nền văn hóa của Á Đông, và của dân tộc Việt từ cả hàng ngàn năm nay. Hơn nữa, trong thế giới Tây Phương, Phật Giáo được xem là một tôn giáo với tín ngưỡng và tôn chỉ cấm sát sanh, và yêu chuộng hòa bình.

Sự thật thì không phải là vì quan niệm từ bi hỷ xã bất bạo động của Phật Giáo được những người Tây Phương, Trung Đông, Cộng Sản và những tôn giáo khác “phong” cho là một tôn giáo “hiền nhất, tốt nhất thế giới”, mà là vì Phật Giáo không phải là một tôn giáo hiếu chiến, xâm lược, bạo động. Nhất là Phật Giáo chưa phải là mối đe dọa, nguy hiểm cấp thời để họ phải bị chi phối, ưu tiên cạnh tranh, và chiến lược đối phó.

Trong lịch sử, những thế lực ngoại quốc và các tôn giáo trên thế giới, nhất là Vatican, thường rất khôn ngoan, và rất biết ngoại giao, thường hay đi đêm với thế quyền và ngã về phe kẻ giàu mạnh, cho nên không dám đụng chạm tới độc tài, cộng sản vô thần, hay khủng bố Hồi Giáo. Vì, như đã thấy, nếu Trung Cộng có thể tấn phong Dalai Lama mới làm nhà lãnh đạo thay thế Lama lưu vong ở Ấn Độ và tự tấn phong các Hồng Y Thiên Chúa Giáo, Tàu không cần thông qua truyền thống, thủ tục mà công khai cướp cái quyền phong thưởng tối cao của Vatican, và cũng bất chấp sự đồng ý, thể theo thủ tục phong tục tín ngưỡng của dân Tây Tạng thì họ còn kiêng nể ai nữa?

Trung Quốc đã ngầm cảnh cáo Vatican: "Nếu lộn xộn, không biết điều “Thiên Triều Trung Quốc” thì họ sẽ tự tấn phong Đức Giáo Hoàng riêng cho đạo Thiên Chúa của Tàu, tẩy chay Vatican trong một ngày gần đây". Và nếu Tàu làm được thì có gì bảo đảm là không có nước khác, ở phiá Nam nước Tàu, không dám noi theo gương chủ nhân ông phương Bắc? Vatican đâu có còn những đạo quân thập tự giá hay áp lực vương quyền gởi quân đội tới bảo vệ giáo dân, luôn tiện xâm lăng, chiếm nước Tàu và Việt Nam làm thuộc địa như thời xưa được!

Bất cứ nhà cầm quyền nào trên thế giới có chủ trương biến tôn giáo trong nước trở thành một công cụ phục vụ cho chính quyền với mục đích dễ bề thao túng và kiểm soát bằng cách quốc doanh hóa, chính trị hóa thì hiển nhiên những tổ chức “quốc danh giáo” đó không còn là tôn giáo chính thống bác ái của thượng đế hay là "nguyên thủy Phật giáo" và bi trí dũng của Đức Phật nữa!

"Quốc doanh hóa tôn giáo"
là một sự lường gạt trắng trợn, một trò hề bịp bợm, độc tài bất chánh, phỉ báng chánh đạo của Ngụy quyền độc đoán, vô thần gian ác. Đơn giản, dễ hiểu, những Ngụy quyền ngoan cố, đầy cố chấp này cương quyết củng cố những quyền lợi của giai cấp thống trị. Cái tập đoàn Mafia đó đã lộ nguyên hình gian ác với bản chất dối trá, mỵ dân, đã mất lòng tin của dân chúng từ lâu.

Vì những lý do trên, cho nên, với bất cứ giá nào, bất cứ phương tiện nào, cái tập đoàn đạo tặc đó sẽ không từ bỏ một thủ đoạn nào kể cả hành động côn đồ, áp dụng luật rừng, vi phạm nhân quyền, miễn là đạt được cứu cánh dù phải đàn áp dã man dân chúng và các tín ngưỡng truyền thống bất chấp dư luận trong ngoài lên án.

Như đã nói ở trên, bằng mọi cách, những kẻ cầm quyền này cương quyết chặt đứt các mối dây liên quan văn hóa có ảnh hưởng tự do tôn giáo của những tổ chức ở hải ngoại, kết hợp với những thế lực tôn giáo ngầm chống đối bên trong lãnh thổ của họ. Mặt khác là tìm cách gởi ra ngoại quốc và gài những cán bộ nồng cốt vào những tổ chức đã phân hóa sẵn và chia rẽ trong cộng đồng hải ngoại. Đồng thời, nối kết liên hệ giữa các tôn giáo trong quốc nội qua chiêu bài "con cá sống vì nước, khúc ruột ngàn dặm, một giọt máu đào hơn ao nước lả, hòa hợp hòa giải"... với những lực lượng tôn giáo hải ngoại để dễ bề trà trộn, thao túng cho mục đích chính trị đen tối và tham lam tài chánh của bàn tay đen ngàn dặm.

Chế độ Ngụy quyền trong nước “khẩn trương” tìm cách đào tạo cấp tốc những sư quốc doanh, cán bộ chính trị, tình báo chuyên nghiệp, và ngay bây giờ, “khẩn cấp, hồ hởi” gởi vợ con và những “chuyên viên” kinh tế, tài chính ra hải ngoại, nhất là qua Mỹ để mua bất động sản, tìm cách rửa tiền (Money laundering is the process of transforming the profits of crime and corruption into ostensibly "legitimate" assets) bất chính ra ngoại quốc qua đường dây liên quan tới “Việt Kiều”. Những đám quân trá hình này được gởi ra hải ngoại qua nhiều “diện” hợp pháp, trước là để nằm vùng rồi từ từ rỉ tai, tuyên truyền, nhồi sọ đồng bào như chúng đã làm trong nước, và mong biến các bài thuyết giảng có sắp đặt với bài bản của "tôn giáo Phật Hồ" thành các bài tuyên truyền chính trị có lợi cho họ. Dĩ nhiên, những sư chùa quốc doanh này được nhiều đặc ân và được phép du lịch dễ dàng ra hải ngoại để tuyên truyền cho nhà cầm quyền.

Nguy hiểm nhất và cũng là âm mưu tối mật của ngoại quốc/kẻ địch đó là móc nối những công dân sở tại làm gián điệp để cung cấp tin tức, ăn cắp tài liệu, và kỹ thuật cho họ. Đây là điều tự nhiên như là ăn cắp bị bắt quả tang sẽ bị truy tố.

Khi đã bị móc nối, và khi đã bán linh hồn cho quỷ, tay đã nhúng chàm rồi thì không thể nào gở ra được nữa trừ khi chết xuống địa ngục để ăn năn, sám hối. Đừng làm bộ ngây thơ, ngu dốt mà khai là không biết trao tài liệu cấm là giúp ngoại quốc vì nhân đạo và không chịu trách nhiệm với những hành vi phạm pháp của chính mình!

Bất cứ quốc gia nào trên trên thế giới cũng đều có luật lệ và hình phạt đích đáng dành riêng cho những gian dân phản quốc.

Bán tài liệu, gởi kỹ thuật dù là kỹ thuật thương mại, không nhất thiết phải làm việc cho chính phủ sở tại, như gởi smartphones, laptops, máy móc điện tử ra nước ngoài, là bất hợp pháp. Phạm luật import and export.

Làm việc cho chính phủ ngoại quốc với vai trò chuyên viên
mà không registered với chính phủ của mình là không tuân luật lệ quốc gia. Ghi danh công khai thì được xem là hợp lệ, nhưng suốt đời đừng hòng mà làm việc cho chính phủ sở tại, cho dù làm theo hợp đồng hay cố vấn.

Tất cả nhưng hành vi trên, nhất là có liên hệ với giới chức trong chính quyền ngoại quốc mà không báo cáo cho giới thẩm quyền sở tại đều là bất hợp pháp. Đó là dấu hiệu của bước móc nối đầu tiên để trở thành phản quốc, không còn đường thối, chỉ có nước làm tình báo cho phe địch cho đến khi nó vắt chanh bỏ vỏ, bán lại mình cho nước mình đang là công dân để đánh đổi hay chuộc điệp viên của chúng ra.

Hậu quả, và hình phạt như thế nào đối với tội phản gia đình, phản quốc, bán nước cầu vinh đầy khinh bỉ, không thể tha thứ đó? Những kẻ dân gian này nếu còn có được một chút lương tâm, còn biết tự trọng, cũng tự mình biết về hành động và hậu quả của phạm pháp như thế nào rồi, khỏi phải cần dạy khôn ở đây. Khi bị “ủ tờ” thì đừng có ngây thơ, khóc lạy, nói là mình lần đầu lầm lỡ, chưa bao giờ nghe đến cái điều luật làm gián điệp cho ngoại quốc, ăn cắp tài liệu, cho là mình có lòng thương muốn giúp đỡ bà con, đồng hương, vì vẫn còn yêu quê hương cũ mà không biết luật lệ bản xứ. Đã theo phe địch, đâm sau lưng phe ta là phản trắc!

Đa số, những giống dân tỵ nạn trên đất Mỹ và trên thế giới không nhớ “được” cái nhục, cái hèn quỳ lạy, khóc lóc với những phản ứng sống còn của một con vật. Ngay trong những giây phút đó, họ sẽ không từ nan, chịu hèn nếu phải bị bắt ăn bất thứ gì dơ bẫn nhất để được sống sót, hay giết những người khác để mình được an toàn, trên bước đường tỵ nạn lúc trước. Bây giờ, qua đây, ra đường, ai cũng oai vệ như những anh hùng sa cơ thất thế tạm thời ra đi để tìm kế cứu nước không bằng! Thay vì "ăn cây nào rào cây nấy", làm ra tiền không ưu tiên giúp đỡ xứ sở của ân nhân mình - và cũng là nước của chính mình bây giờ - lại đi gởi tiền về giúp kẻ gian ác ở cái xứ đã từng xem mình là thù nghịch, là rác rưới, cặn bã, hạ cấp của xã hội mới - nơi mà cường quyền đạo tặc, côn đồ, vô học, bất lương đó đã đuổi mình đi sau khi bỏ tù, cướp đoạt tất cả tài sản của mình và gia đình mình.

Phần đông, những giống di dân này, một là không hoàn toàn hợp tiêu chuẩn di cư, hai là không xứng đáng được hưởng quy chế thường trú nhân; hay xa hơn, không nên được ban ân huệ để hãnh diện thề trung thành khi trở thành công dân của những nước văn minh nhân đạo Tây Phương này, mà nên bị trục xuất ngay tức khắc về lại xứ họ để làm “anh hùng” lạy lục kẻ ác, và để được sống yên thân trong ngu dốt, nghèo đói.

Trở lại vấn đề tôn giáo vận, Ngụy quyền trong nước cố mập mờ biến tôn giáo quốc nội trông vào như là một thành phần đã hợp tác với chính quyền để gây hoang mang, chia rẽ trong cộng đồng. Nhiều chùa chiền, thánh thất, nhà thờ ở nội địa trở thành sung túc, được trùng tu vĩ đại nhờ vào những ủng hộ tài chánh của những đại gia và chính quyền địa phương vì những kẻ này dư tiền thừa bạc có được từ tham nhũng, ăn cướp trên máu mủ của dân. Họ tưởng cúng dường để hối lộ Thần Thánh Tiên Phật, cầu được thêm phước đức, giàu có quyền chức được lâu dài hơn nữa, nhất là rửa được tội ác, tránh được tù tội. Đó là những điều phập phòng, canh cánh lo sợ trong lòng, ăn ngủ không yên của những kẻ chuyên làm những điều gian ác. Chúng nó luôn sợ có một ngày, đùng một cái thì quả báo ập đến rồi thì của ăn cướp sẽ như là “của yêu traả lại cho quỷ”, đúng y như phương cách mà chúng nó đã cướp của người khác lúc trước.

Trong giai đoạn “cách mạng giải phóng” ở Tàu và Việt Nam, các chùa chiền bị cấm hoạt động, sư ni sãi, cha soeur, chức sắc... phải hoàn tục và bị đưa đi lao động tại các vùng kinh tế mới. Chủ trương đổi mới về chính trị bắt đầu từ năm 1978, từ Trung Quốc qua đến Việt Nam, đã thay đổi cục diện của hai chế độ cộng sản này. Các tôn giáo bắt đầu khởi sắc và nhộn nhịp trở lại, các tu viện lớn được phép tái sinh hoạt, nhất là tại các điểm hấp dẫn du khách. Sư ni sãi, mục sư, linh mục, chức sắc được cho trở về nhà thờ, chùa, thánh thất. Sau đó, các lớp trẻ dần dần cũng được tuyển mộ và đào tạo thêm qua sự cho phép và kiểm tra của chế độ. Các tu sĩ, tăng, ni, giáo sĩ được chút tự do, đời sống thoải mái, khá hơn trước. Họ không còn đói khổ nữa, có cơm áo mặc, cho nên lần lần bị hủ hóa, khuất phục và hợp tác với chính quyền lúc nào không hay. Riết rồi, những tôn giáo bị vô hiệu hóa, không còn là một mối hiểm nguy cho chính quyền như trước nữa, chính quyền đã thao túng được tôn giáo và xem tôn giáo là một lợi khí chính trị. Sau đó, tôn giáo cũng được xem là một phương tiện kinh tế, tài chánh cho chế độ vì hầu hết chùa chiền, thánh thất, nhà thờ... trong cũng như ngoài nước đều nằm trong các khu du lịch hấp dẫn du khách trên thế giới.

Tóm lại, quyền lực và tôn giáo như cá với nước, có lợi ích tương quan trong việc tu thân, tề gia, trị quốc, đem lại hòa bình, an ninh, thịnh vượng cho thiên hạ và mục đích tối thượng là “bình an dưới thế cho người thiện tâm bồ đề,” làm cho chúng sinh phát hiện trí tuệ, hết vô minh, giác ngộ, giải thoát khỏi khổ đau.

Ngụy quyền cai trị tôn giáo sẽ đi ngược với lòng dân, mất nhân tâm. Ý dân là ý “trời”? Sẽ bị trời tru, đất diệt! “Bất cứ chính quyền nào có được thiên thời, địa lợi và nhất là nhân hòa thì sẽ bình được thiên hạ. Nếu chính quyền để mất lòng dân và không được dân hậu thuẫn nữa thì, như lịch sử đã chứng minh, sớm muộn sẽ phải bị truất phế. Mạnh Tử có câu: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.” (Vô Ý, Lê Huy Trứ)

Tôn giáo ảnh hưởng chính quyền sẽ đưa đến cuồng tín, khủng bố, chiến tranh, tội ác. Ngoại trừ Phật Giáo là tôn giáo từ bi, cấm sát sanh cho nên Phật Giáo nếu là quốc giáo với đa số dân là Phật Tử tu hành sẽ không phải là đạo giữ được nước hữu hiệu khi bị kẻ mạnh xâm lăng, bức hiếp. Như nước Afghanistan, một nước sùng Phật Giáo bị Hồi Giáo tiêu diệt.

Đại Lý lân bang với Đại Việt, ta tất cả các vua họ Đoàn (Đoàn Chính Minh, Đoàn Chính Thuần, Đoàn Dự, Đoàn Chính Hưng...) đều bỏ ngôi đi tu nên bị mất nước bởi Mông Cổ. Trừ nước Đại Việt của chúng ta, dù các vua Trần bấy giờ cũng rất sùng đạo Phật, cũng bỏ ngôi vua đi tu. Nhưng khi sơn hà nguy biến vẫn khoác chiến bào cùng quân dân giết giặc xâm lăng Bắc Phương để cứu nước.

Phật Giáo Ấn Độ bị Ấn Độ Giáo bách hại phải tỵ nạn ở Tây Tạng. Gần đây, cỡ 55 năm, Tây Tạng bị Trung Cộng xâm lăng, vô phương giành lại độc lập, cũng vì quá từ bi nên yếu hèn; hơn nữa, vừa làm vua vừa làm Phật sống thì có nước sống lưu vong suốt đời ở Ấn Độ mà thôi. Như vua cha của Đức Thế Tôn muốn Đức Phật vừa làm Vua vừa làm Phật, ở lại hoàng cung, không phải dầm mưa dãi nắng, khất thực, vô gia cư, màn trời chiếu đất, du thuyết bộ khắp bốn phương... Nhưng Đức Phật đã lễ phép từ chối, vì đó là lý do mà Ngài đã dứt khoát hy sinh, từ bỏ để tầm đạo vô thượng, và đó cũng không phải là lý do mà Ngài, sau khi đã chứng được vô thượng chính đẳng chính giác, trở lại hoàng cung để trở lại làm phàm phu, thay vì giảng đạo giải thoát. Vô thượng chính là tự mình đã chứng đắc cho hoàng gia, và cùng vợ con của Ngài.

Phật là Phật! Vua là Vua! Không nhị nguyên mà là bất nhị! Cho nên, “Từ Bi tuy đứng hàng đầu trong Phật Giáo nhưng phải đi đôi với Trí Tuệ và Anh Dũng. Như Vua Trần Nhân Tông dù đã thoái vị, đi tu, nhưng khi đất nước bị quân Nguyên (Mông Cổ) xâm lăng, vẫn khoác chiến bào cùng dân quân, tướng sĩ chống ngoại xâm cứu nước. Ngài đã anh dũng múa kiếm giữa trận tiền, công thành với vạn cốt khô, đưa giặc tiêu diêu cực lạc mà vẫn kiến tánh. Sau khi giành lại độc lập, Ngài cởi bỏ chiến bào như ngài đã từng từ bỏ long bào, khoác áo cà sa trở về với kinh kệ.” (Vô Úy - Lê Huy Trứ). Theo tôi thì Sư Ngài này đã tạo vô lượng công đức, đó là đưa phe địch lẫn phe ta lên thiên đàng sống chung hòa bình với thượng đế. Bình yên trên nớ cho mọi người dưới ni an tâm. Còn ai muốn tiêu diêu cực lạc thì Ngài cũng làm tiếp dẫn đạo sư để độ về bên tê tề làm Phật, hết đường trở lại bên ni nì nữa.

Phật Hoàng Trần Nhân Tông chỉ như ông lái đò độ khách quá giang từ bờ sanh qua bến tử để rồi mới có cớ để tái bĩ ngạn, tái sanh. Ngài là đấng Bồ Tát đại từ bi, trường trai, không sát sanh, sanh sát; nhưng phải múa kiếm chém đầu giặt giữa trận tiền, công thành vạn cốt khô mà vẫn kiến tính; diệt vạn mạng nhưng không giết một người!

Từ trước 1975 ở miền Nam VN cho đến bây giờ, trên khắp thế giới, những cộng đồng gốc Việt hải ngoại đang bị VC xâm nhập, nằm vùng, trà trộn. Tuy thiểu số nhưng chúng nó được huấn luyện chuyên nghiệp, biết tổ chức bảo mật, kinh nghiệm sách động chia rẽ. Địch trá hình và thao túng dễ dàng vì đa số những cộng đồng hỗn tạp này vẫn còn cái thói ăn cơm “tổ quốc mới” của ân nhân cưu mang mình mà lại vẫn bị ám ảnh và sợ hãi, tôn thờ ma cũ mà quên rằng, vì chúng nó mà mình và gia đình mình phải bỏ nước, bỏ mồ mả, bỏ nhà, bỏ của, chạy lấy thân, tha hương cầu sống.

Có thể vì có mắt không tròng, ngoan cố, không chịu tự mình nhận thấy và chấp nhận cái diện mục “Trần Minh” với cái bản lai “khố chuối” 4000 năm văn hiến của mình để tự tu học, sửa thân. Ngược lại, đa số những người Việt xấu xí này đang tự họ chứng minh bằng cách “vải” cái 4000 năm kém văn hiến và thể hiện cái đỉnh cao trí tuệ thiếu văn hóa đó cho thế giới “nghiêng mình cảm phục” qua những hành động sinh hoạt hàng ngày trong quần chúng. Cho nên, từ “mặc cảm tự ti” trở thành “mặc cảm tự tôn”! Chui trốn ra hải ngoại rồi mà vẫn quen thói nói láo như Cuội, vải phét lác chạy đầy thế giới!

Cũng vì nhắm mắt, bịt tai nên cho đến bây giờ, chúng ta vẫn chưa bừng mắt dậy để nhận thấy là chúng ta đang sống chung với địch và đang bị địch thao túng. Thật ra thì cũng tội nghiệp cho phe ta. Cái yếu điểm không bao giờ sửa đổi được của chúng ta là mau quên, và dễ tha thứ, nhất là ngây thơ thấy yêu quỷ đội lốt người Việt, nói tiếng Việt rồi tưởng ma quỷ là người Việt Nam như ta. Có thể vì vậy mà địch luôn luôn yên ổn trà trộn ở trong lòng ta mà không bị lộ diện, nhưng ta không thể an toàn ẩn thân được trong đất địch mà không bị nhận diện.

Có thể vì ta thơm địch thúi? Địch vì luôn thối nên dễ ngửi được mùi thơm. Còn ta khi thơm, khi thúi cho nên ngay cả chính ta không biết đâu mà lường?

Địch với ta như nhân duyên cá với nước. Con cá nó sống nhờ nước chứ không vì nước. Còn nước không nhờ cá mới thành nước và cũng không vì cá mới có nước. Có thể đó là cái nghiệp quả mà nước nuôi cá. Nước dung dưỡng cá vì tưởng cá sẽ giúp nước nhưng cá sống nhờ nước, vì nước mà trưởng thành, lại không phải để giữ nước, cứu nước mà để bán nước. Có thể không hiểu lý như vậy mà phe ta thua dài dài. Chúng ta không bao giờ giải thoát khỏi địch nếu không giác ngộ được cái như thị tri kiến này.

Kết luận:

Nên nhớ là, những chế độ trên không phải không có tham vọng chi phối các tôn giáo khác. Nhưng, như đã phân tích ưu khuyết điểm ở trên, và hơn nữa là Phật Giáo cởi mở hơn, không có tổ chức chặt chẽ bằng những biện pháp kiểm soát tín đồ và kỷ luật huấn luyện như những tôn giáo thần quyền, nên Phật Giáo rất dễ bị trà trộn và thao túng như ở Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam. Những thế quyền hiện đại này ở nước Tàu rộng lớn, hay ở cái nước bé hạt tiêu như Việt Nam, trên nguyên tắc căn bản tổng quát, chẳng khác gì như trường hợp của hai đế quốc Nhà Châu và Đế Quốc Rome.

Đế quốc La-Mã và Nhà Chu trong quá khứ đã mượn tay "Trời nhân tạo" để tìm cách thống trị thiên hạ, nhưng rồi thì những đế quốc này cũng không tồn tại với lịch sử vì đã trái lại ý dân.

(Nhà Chu/周朝 -1046-256, trước Tây lịch!) là triều đại kéo dài lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc, 800 năm tất cả. Lãnh thổ trải rộng trong toàn bộ thung lũng sông Hoàng Hà và toàn vùng phía bắc Trung Quốc ngày nay.

Đế quốc La-Mã xuất hiện muộn hơn so với đế quốc nhà Chu rất nhiều, được thành lập năm -27 trước Tây lịch, nhưng kéo dài lâu hơn và chỉ hoàn toàn sụp đổ năm 1453 sau Tây Lịch. Lãnh thổ Đế quốc La-Mã trải rộng từ nước Anh đến vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) tại Trung Đông, gồm các nước Tây Ban Nha, Pháp, Bi, Hy Lạp, Thổ-nhĩ-kỳ, Syria, Palestine..., và cả các vùng bờ biển phía nam Địa Trung Hải: Maroc, Ai Cập, v.v...

Lịch sử đã chứng minh, những bạo quyền này chỉ kiểm soát nhất thời, tạm bợ trong nước, không bao giờ được lòng dân, và nhất là không thể thuyết phục được thiên hạ trên thế giới.

Vì vậy:

- Tôn Giáo không thể là Chính Quyền. Chính Quyền không thể là Tôn Giáo!

- Tôn Giáo là Tôn Giáo! Chính Quyền là Chính Quyền!

Lê Huy Trứ

Reference (Tài liệu tham khảo):

En Chine, le pouvoir instrumentalise le renouveau Bouddhisme, Ji Zhe (Tại Trung Quốc Chính Quyền Công Cụ Hóa Phật Giáo Đổi Mới- Hoang Phong chuyển ngữ)