+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 6 của 6

Chủ đề: GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC”

  1. #1

    GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC”

    (PHẦN 1)

    Đức Hộ Pháp đã tường-thuật giấc mơ thời niên-thiếu vào năm 1927, và cho đến hôm nay, nó (giấc mơ) vừa tròn 90 năm. 90 năm, đối với một KIẾP NGƯỜI, đó là khoảng thời-gian dài vằng vặc, nhưng đối với TUỔI ĐẠO, nó vẫn trong thời-kỳ sơ-khai. Khoảng thời-gian ấy, có người gọi Ngài là bạn, và tiếp nối là lớp con, lớp cháu, hàng triệu triệu tín-đồ Đạo Cao-Đài đã từng đọc “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU” của Ngài.

    Họ chìm vào giấc ngủ mê say theo giấc mơ của Ngài, và họ sẽ bừng tỉnh thức khi biết giấc mơ là SỰ THẬT. Một sự thật trăm phần trăm (100%). Mời quý-vị đọc-giả cùng Tôi đi tìm sự thật trong giấc mơ của Đức Hộ-Pháp.

    Để tiện việc đi tìm SỰ THẬT trong “Giấc mơ thời niên-thiếu của Đức Hộ-Pháp”, Tôi chia tác-phẩm nầy ra làm 5 phần và giải mã theo tuần-tự 6 phần được chia đó.



    (trích):

    “MỘT ĐÊM VỀ TRỜI"

    Ấy là tháng Giêng năm Đinh-Mùi (1907). Sau khi tham-gia phong-trào Đông-Du bị bắt hụt, Ngài về quê nhà tạm lánh. Đêm rằm trăng sáng. Ngài ra nằm trên cái sập bán hàng của cô em gái, kê ngay trước hiên nhà. Nhìn ánh trăng hư ảo, tâm-hồn phiêu diêu. Ngài sực nhớ đến bài thơ “THẦN-ĐỒNG VẤN-NGUYỆT” của một ông bạn vong-niên đã ngâm cho Ngài nghe ; và chỉ nghe một lượt Ngài đã thuộc lòng, tưởng chừng như bài thơ đã được in vào trong tâm-khảm Ngài từ tiền-kiếp xa xưa nào rồi. Ngài nằm, đắm đuối nhìn trăng và ngâm:

    Thu thiên dạ thanh quang vân tĩnh,
    Chốn lữ đình thức tỉnh canh khuya.
    Tai nghe văng vẳng bốn bề
    Gương Nga vằng vặc dựa kề quế lan.
    Thấy trăng thêm động lòng vàng,
    Ngâm câu vấn nguyệt cho đang mấy lời.

    Hỏi dì Nguyệt mấy lời sau trước:
    Duyên cớ sao mà được thảnh thơi?

    Nguyệt rằng: Vật đổi sao dời,
    Thân nầy trời để cho người soi chung.
    Làm cho mỏi mệt anh hùng,
    Ngàn thu sương tuyết một lòng thanh quang.

    Hỏi dì Nguyệt có đàng lên tới,
    Chốn thiềm cung phỏng mấy mươi xa?

    Nguyệt rằng: Ta lại biết ta,
    Có cây đơn quế ấy là nhà em.
    Anh hùng thử đến mà xem,
    Kìa gương Ngọc-thỏ nọ rèm thủy tinh.

    Hỏi dì Nguyệt có tình chăng tá?
    Chữ xuân thu phỏng đã nhường bao?

    Nguyệt rằng: Yếu liễu thơ đào,
    Càng lên càng tỏ, càng cao càng tròn.
    Gương Nga vằng vặc chẳng mòn,
    Bao nhiêu tinh đẩu là con cái nhà.

    Nguyệt lại hỏi đến người quân-tử:
    Buổi vân lôi ai giữ kinh luân?

    Ta rằng: Có đấng Thánh-quân,
    Ra tay dẹp loạn, nên thân trị bình.

    Nguyệt hỏi ta ngẩn ngơ, ngơ ngẩn,
    Ta hỏi nguyệt thơ thẩn, thẩn thơ.
    Liễu qua trước gió phất phơ,
    Hương đưa bát ngát, phòng thơ ngạt ngào.

    Tiếng ngâm thơ của Ngài vang vang làm lay động cả ánh trăng khuya, dập dờn như nổi sóng. Tâm-hồn Ngài cũng lâng lâng, nhẹ nhàng như mọc cánh, bay bổng trên chín tầng thinh không cùng với thanh âm trầm bổng của giọng thơ ngâm dâng cao. Một cảm-giác khoan khoái vô-biên tràn ngập lòng Ngài, một khoái-cảm êm ả, nhẹ nhàng, mang mang, không bờ bến. Ngài nhắm mắt đê mê, vừa để lặng lẻ tận hưởng, vừa để phân-tích nguồn khoải-cảm kỳ lạ ấy.” (hết trích).

    Sau khi các bạn đọc xong phần 1, tôi tin rằng các bạn cũng như Tôi đều thừa nhận bài thơ “THẦN-ĐỒNG VẤN-NGUYỆT” quá hay, nó nhẹ nhàng thoát tục và đưa người đọc vào giấc mộng, một giấc mộng êm đềm như TRONG THƠ CÓ NHẠC VÀ HỌA.

    Các bạn đang mơ bởi nội-dung và âm điệu của bài thơ, và Đức Ngài hoàn-toàn khác với các bạn, Ngài đang mơ bởi TỰA ĐỀ bài thơ – “Thần-Đồng Vấn-Nguyệt”, một đề tựa mang nỗi niềm tâm-sự tỏ cùng ai. Ngài tự ví mình như Thần-đồng, mà “THẦN-ĐỒNG” là thiên-tài, là tài-năng của Trời, còn “VẤN-NGUYỆT” là hỏi mặt trăng, mà mặt trăng là CÁI BÓNG của mặt trời.

    ==> Cho nên, “Thần-Đồng Vấn-Nguyệt” nghĩa là NGÀI TỰ NÓI CHUYỆN VỚI CÁI BÓNG CỦA MÌNH vậy!

    Trong các bạn, AI LÀ CÁI BÓNG CỦA NGÀI (?). Nếu là cái bóng của Ngài thì ngay lúc nầy, cái bóng ấy phải lâặp lại câu hỏi (trích):

    “Nguyệt lại hỏi đến người quân-tử:
    Buổi vân lôi ai giữ kinh luân?


    Ta rằng: Có đấng Thánh-quân,
    Ra tay dẹp loạn, nên thân trị bình.

    Nguyệt hỏi ta ngẩn ngơ, ngơ ngẩn,
    Ta hỏi nguyệt thơ thẩn, thẩn thơ.
    Liễu qua trước gió phất phơ,
    Hương đưa bát ngát, phòng thơ ngạt ngào”
    (hết trích).

    Có phải hai chữ “VÂN LÔI” là báo-hiệu trận đại-hồng-thủy? Một trận lũ lụt kinh-hoàng nhấn chìm quả địa-cầu; từ-ngữ mà chúng ta thường dùng để diễn-đạt ý ấy là “TẬN THẾ”.

    - VÂN nghĩa là mây, LÔI là sấm sét, nó là hiện-tượng thiên-nhiên báo hiệu cơn mưa đến.

    Các bạn hãy quan-sát hiện nay BIỂN-ĐÔNG có phải là hiện-tượng VÂN LÔI chăng? Chắc chắn là như thế, vì các Đấng có tiên-tri từ trước rồi.

    Cho nên, muốn biết Đấng THÁNH-QUÂN ra tay DẸP LOẠN VÀ TRỊ BÌNH thiên-hạ bằng cách nào, xin mời các bạn xem tiếp phần 2 trong “Giấc mơ thời niên-thiếu của Đức Hộ-Pháp”.

    Núi Bà Đen, ngày 25-11 Đinh-Dậu (DL: 11-01-2018)

    NGUYỄN-THẾ- TRUYỀN

  2. #2

    GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC” (PHẦN 2)

    PHẦN 2 (Mời kéo lên trên để xem phần 1):



    (trích):

    “Và khi mở mắt ra, Ngài thấy chan hòa một thứ ánh sáng huyền ảo, chẳng phải là ánh sáng nóng bỏng của mặt trời, cũng chẳng phải là ánh sáng lạnh lẽo của mặt trăng trên trái-đất. Ánh sáng vừa trong trẻo, vừa dịu dàng, vừa đầm ấm, bàng bạc khắp cả chung quanh. Còn Ngài thì lững thững trên con đường trắng như tuyết, phẳng phiu, sạch sẽ không văng một mảy mai bụi trần, chạy thẳng tắp về phía chân trời xa. Ngài vừa đi vừa tiếp tục ngâm bài thơ “Thần-Đồng Vấn-Nguyệt”.

    Bỗng, thấp thoáng đằng xa đi lại một bóng người. Ngài im bặt, chú ý nhìn. Bóng người tiến lại, trông rõ dần … Cách Ngài vài chục thước, hiển-hiện một vị sư già, nét mặt vô-hạn từ-bi, mình khoác bộ áo cà-sa vàng. Thấy Ngài có vẻ ngơ ngác nhìn, vị sư lên tiếng:

    - Em có nhớ “qua” không ?

    Ngài nhìn lại vị sư, chợt nhớ ra, vội đáp :

    - Dạ!

    ___ (hết trích)

    Thưa các bạn, cái ánh sáng vừa trong trẻo, vừa dịu dàng, vừa đầm ấm, bàng bạc khắp cả chung-quanh đó là ÁNH SÁNG CỦA TRÍ-HUỆ. Người tu-hành phải MỞ CON MẮT GIỮA ra khi mơ, đừng có NHẮM CON MẮT mà mơ thành Tiên Phật, như Hội-Thánh hiện nay, thì xuống Phong-Đô cả lũ.

    Ánh sáng trí-huệ càng ngày càng rộng mở. Khi người tu “LỮNG THƯỮNG” bước trên con đường trắng như tuyết, phẳng phiu, sạch sẽ không văng một mảy mai bụi trần, các bạn hãy VÔ-TƯ NHẸ NHÀNG bước trên CON ĐƯỜNG CỨU KHỔ mà Đức Ngài đã vạch sẵn. Cứ bước đi, khoảng-cách giữa các bạn và Đức Chí-Tôn cũng thu hẹp dần. Một lúc nào đó:

    - “EM CÓ NHỚ QUA KHÔNG ?”

    Cha già Đức Chí-Tôn nào có quên những đứa con của Ngài đang lặn ngụp trong Biển-Khổ “DANH LỢI QUYỀN”!

    - “Dạ !”

    Tức là CON CÒN NHỚ TỚI CHA và cha con gặp nhau là TRỜI VỚI NGƯỜI HIỆP NHẤT. Ấy là ĐẮC ĐẠO RỒI VẬY!

    Có điều, mật-nhiệm mà Đức Hộ-Pháp ẩn giấu trong câu: “Em có nhớ Qua không?”. Đáng lý ra, câu nầy phải viết như vầy:

    - “THÍ-CHỦ CÓ NHỚ BẦN-TĂNG không?”

    Viết như tôi thì đúng với ngôn-ngữ của Nhà-Sư, nhưng không có nghĩa lý gì cao xa cả, còn viết như Đức Ngài thì một ẩn-tàng sâu kín đang chứa đựng trong đó.

    - “EM CÓ NHỚ QUA KHÔNG?”.

    ==> Đây là câu hỏi thông-dụng của người nông-dân Nam-Bộ vào đầu thế-kỷ 20.

    ==> Nghĩa là Thượng-Đế đã có mặt tại thế-gian là một nông-dân Nam-Bộ, nhìn bề ngoài giống Nhà-Sư, nhưng không phải là Sư theo Đạo Phật. Nói thí-dụ điển-hình như mấy ông Tu-Chơn nơi Vạn-Pháp-Cung, nhìn bề ngoài giống Sư, thực-tế là tín-đồ Đạo Cao-Đài. Ông Sư nầy, Đức Hộ-Pháp gọi là “NAM-BÌNH-VƯƠNG-PHẬT”.

    (Mời đón xem tiếp phần 3).

    Núi Bà Đen, ngày 29-11 Đinh-Dậu
    (DL: Thứ 2, 15-01-2018)

    NGUYỄN-THẾ- TRUYỀN

  3. #3

    GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC” (PHẦN 3)

    PHẦN 3 (Mời kéo lên trên để xem phần 1 và 2):


    (Hình 1)

    (trích):

    “Chính Ngài đã được gặp vị Sư này một lần rồi, cách đây hơn mười năm, hồi Ngài mới lên mười tuổi, đương theo học một ông đồ chữ Nho. Ngài thường theo hầu thầy đi làm thuốc. Một hôm, ông thầy sai Ngài cân thuốc trong hiệu-khách Đức-Vọng ở chợ ngã tư Tây-Ninh.

    Bước vào cửa-hàng, Ngài đã thấy, ngồi ở cái kỷ dài đối-diện với quầy hàng, vị Sư già mặc áo cà-sa vàng trên kia cùng với một ông già râu tóc bạc phơ, trông thật là tiên-phong đạo-cốt, làm cho ai nhìn cũng phải kính mến.

    Ngài đưa toa cân thuốc, Người chủ tiệm cầm lấy toa tính tiền xong, đưa tay chỉ về phía trường-kỷ, mời Ngài ngồi chơi cùng hai ông khách già.

    - Được, chú để mặc tôi.

    Ngài đứng yên dựa vào quầy hàng nhìn kỹ vị Sư và ông già. Hai người chỉ chỏ Ngài, rồi nói chuyện với nhau. Ngài lắng tai nghe, biết rằng hai người đang nói chuyện về tướng số và rõ-ràng đang luận về tướng Ngài. Chính Ngài nghe thấy và còn ghi mãi trong ký-ức lời kết-luận của nhà Sư: “Cậu bé này vào bậc siêu-phàm, sự-nghiệp cậu sẽ vô cùng cao cả”.

    Nhớ đến truyện cũ, Ngài đã định hỏi vị Sư về quá-khứ, hiện-tại, cũng như vị-lai. Ngài còn đang suy-nghĩ đặt câu hỏi thế nào cho tiện, thì vị Sư già hình như biết ý, mỉm cười kéo tay Ngài:

    - Em suy-nghĩ gì đấy? Thôi hãy đi chơi với Qua"
    (hết trích).

    (Hình 2)

    @@@ Kể từ phần 3 về sau, tôi mong các bạn hãy từ từ và bình-thản mà đọc, vì sự thật làm các bạn ngỡ-ngàng dẫn đến bốc-đồng. Sự thật vì dư vị đắng của thuốc, không vì thuốc đắng mà đem đổ thuốc đi, mà nhất là thuốc nầy là thuốc CẢI-TỬ HUỜN-SINH.

    Uống thuốc hay đổ bỏ thuốc đi là QUYỀN TỰ-DO của mỗi người.

    Trách-nhiệm của người THẦY THUỐC là căn-cứ vào bệnh-lý để ra toa, và trách-nhiệm của người BỐC THUỐC là căn-cứ vào toa thuốc để bốc thuốc, không được bốc thuốc sai, vì sai một ly, đi nghìn dặm. Cho nên, sự thật là thuốc quá đắng, nên quá đắt, đắt đến nổi:

    “Tu thì đông mà xuồng vông ngồi hỏng đầy”.

    Trở lại vấn-đề chính.

    Đức Ngài hồi-tưởng lại hồi mới lên 10 tuổi đã gặp Vị Sư nầy và một vị mặc áo màu xanh, rất là tiên-phong đạo-cốt, tại hiệu-khách Đức-Vọng ở chợ ngã tư Tây-Ninh.

    Thưa các bạn,

    Tôi sinh ra và lớn lên tại Tây-Ninh, cam-đoan với các bạn rằng, gần chợ Tây-Ninh (năm 1927) không có ngã TƯ nào, chỉ có ngã BA “DỐC CÂY ME”: Một đường đi Bến-Sỏi (huyện Châu-Thành), một đường đi Mỏ-Công (huyện Tân-Biên). Và cũng không có hiệu-thuốc nào có bảng-hiệu đề tên "Đức-Vọng" cả!


    "Ngã ba Dốc Cây Me" ở bên kia cầu, cuối đường Gia Long, nơi có cây xăng Shell của ông Kiển (trong ảnh, chúng ta nhìn thấy biển hiệu Shell, màu vàng, ở cuối dãy phố bên phải). Vào năm 1927, nơi đây là ngã ba, chưa là ngã tư như bây giờ)


    Cây xăng Shell ở cuối đường Gia Long và nằm ngay dưới dốc Cây Me (bên phải cây xăng).

    Chính vì vậy, Ngài Tiếp-Pháp Trương-Văn-Tràng đã chỉnh sửa lại: Đức-Vọng là tên của thầy-đồ (xem hình 2, 3, 4)


    (Hình 3)

    (Hình 4)

    Tôi đưa ra bằng-chứng ở đây, không phải nói Đức Hộ-Pháp viết sai, hay khen Ngài Tiếp-Pháp sửa đúng. Tôi mong các bạn hiểu rằng, Đức Hộ-Pháp đang dùng “VĂN DĨ TẢI ĐẠO” chớ không phải bài luận-văn tả thực.

    Cho nên, ngã TƯ là nơi giao nhau của hai con đường, trục tung là Dương, trục hoành là Âm, ngay chôỗ giao nhau là Âm Dương hiệp nhất, ấy là ĐẠO.

    ĐẠO luôn luôn dịch chuyển nên gọi là ĐẠO-DỊCH.

    - Chữ thập (+) quay theo bên trái, gọi là “NHỨT BỔN TÁN VẠN THÙ”, Đạo Phật ký tự là chữ VẠN ( 卐 )

    - Chữ thập quay về bên mặt (卍) là “VẠN THÙ QUI NHẤT BỔN”, Cao-Đài Giáo gọi là “TAM-GIÁO QUI NGUYÊN, NGŨ CHI PHỤC NHẤT”.

    Nhưng chữ thập ở đây là NGÃ TƯ, tức không dịch chuyển, nên Âm Dương phân rã, ví như trời đất không giao hòa, cho nên chữ thập (+) biến thành chữ “TUYỆT”, nghĩa là “MẤT”.

    ==> Ngày nầy là NGÀY PHÁN XÉT CUỐI CÙNG, hay là ĐẠI-HỘI LONG-HOA.

    CHỢ đặt tại ngã tư, là nơi tụ hội đông người, ví như chợ của thế-giới.

    Các bạn cũng biết: Thương-trường là chiến-trường. Tay trái của con buôn tính trên máy tính, thấy thua lỗ thì tay phải ấn nút bom nguyên-tử liền. Cho nên chữ thập (+) đi liền chữ “tuyệt” là vậy.

    Thượng-Đế là Đấng Háo-Sanh, Ngài nỡ lòng nào để nhơn-loại tuyệt-chủng! Cho nên, không hẹn mà gặp, Nhà-Sư, Đạo-Sĩ, Nho-Sĩ (Đức Ngài thế thân) gặp nhau tại hiệu-khách Đức-Vọng, một cuộc gặp hi-hữu, âu cũng là Thiên-cơ đã định.

    Nhà-Sư mà làm chủ Bát-Quái-Đài, theo tôi nghĩ là A-Di-Đà Phật quá. Ông Đạo-Sĩ mà làm chủ Ngọc-Hư-Cung, chắc có lẽ là Hồng-Quân-Lão-Tổ quá. Các bạn tin đại dùm tôi vì tôi không thể chứng-minh chắc-chắn đặng (!)

    Tam-Giáo Thánh-nhân tụ hội tại nhà ông Đức-Vọng, điều đó chứng-tỏ rằng ông Đức-Vọng không phải là người tầm thường rồi. Tầm thường sau đặng, vì nghĩa của hai từ “ĐỨC-VỌNG” là CHỜ CHO ĐỦ ĐỨC, mà trong sách Luận-Ngữ, Khổng-Tử có nói: “Kế thế thiên-hạ dĩ hữu vi đức”. Nghĩa là: Muốn có được thiên-hạ thì phải có đức.

    Thành ra trong “Kinh tụng cha mẹ đã qui liễu” có câu: “Chờ con lập đức giúp hườn ngôi xưa”.

    ==> Có ĐỨC thì làm Tiên, Phật cõi thiêng-liêng đặng, chẳng nhẽ làm Giáo-Tông dưới thế-gian nầy không đặng sao?

    Vậy ông chủ hiệu-khách Đức-Vọng là ai ? --> Ông là CHỦ HIỆU THUỐC BẮC.

    Nhà ông ở hướng Bắc trên giao-lộ ngã tư chợ Tây-Ninh. Ông là CHỦ phương Bắc nên Đạo Cao-Đài gọi là KIM-QUANG-SỨ. Hiện-tại, nhà ông bây giờ đã dời về NHÀ KHÁCH trong Nội-ô Tòa-Thánh Tây-Ninh, đối-diện với NAM ĐẦU-SƯ-ĐƯỜNG.

    Thưa các bạn, triết-lý Tam-Giáo giống như toa thuốc để chữa bệnh cho ĐỜI. Đạo Phật và Đạo Lão chủ-trương XUẤT-THẾ, mà bệnh của Nhơn-loại lại nằm giữa chợ, nên toa thuốc của hai tôn-giáo nầy không còn tác-dụng!

    Chính vì vậy, Nhà-Sư và Đạo-Sĩ đã ngồi tại hiệu-khách Đức-Vọng THỊ-CHỨNG việc Đức Ngài cầm toa thuốc của Thầy-Đồ (Nho-Giáo) đến hiệu-thuốc để hốt thuốc cứu đời LÀ SỰ THẬT.

    Nho-Giáo với chủ-trương NHẬP-THẾ, nên tính triết-lý của nó hoàn-toàn thích-ứng với con bệnh nằm giữa chợ hiện nay.

    Các bạn hãy an-tâm, toa thuốc của Nho-Giáo đã thực-nghiệm trên lâm-sàng cho kết-quả rất tốt, đẩy lùi mọi bệnh-tật, mà nhất là cho NGƯỜI NGHÈO-KHỔ thì HOÀN-TOÀN MIỄN-PHÍ.

    Khổng-Tử khi nắm nhiếp-chính nước Lỗ chỉ mới dùng có chữ “LỄ” mà nước Lỗ trong ba (3) tháng không có trộm cắp, sáu (6) tháng nhà nhà ngủ không cần đóng cửa, trai thì trung hiếu, nữ thì giữ tiết-hạnh.

    Theo đánh-giá của tôi, sự-nghiệp gắn liền với cuộc-đời của Khổng-Tử không hề thất-bại, mà chỉ có mấy THẰNG HAM ĂN LÀM VUA nên đất nước của mấy ông Vua nầy TÀN LỤI.

    Tôi xin nhỏ giọt lệ đau thương sẻ chia cùng Ngài. “Ôi thân-phận của người QUÂN-TỬ không gặp thời”.

    Khi Đức Hộ-Pháp đưa toa thuốc cho ông chủ Đức-Vọng, trong toa vẻn-vẹn có hai (2) vị thuốc đó là NHÂN và NGHĨA. Ông chủ hiệu Đức-Vọng là một chuyên-gia trong lãnh-vực làm thuốc, kinh-nghiệm mà ông có do tổ-tiên truyền lại nhiều đời. Ông ĐỊNH được GIÁ-TRỊ của toa thuốc đặc-trị chỉ dùng để “CẢI-TỬ HUỜN-SINH” cho Nhơn-loại khi BOM NGUYÊN-TỬ NỔ.

    NHÂN NGHĨA là lý-thuyết, BỐC THUỐC THỰC-HÀNH là Phước-Thiện, mà hiện nay CƠ-QUAN PHƯỚC-THIỆN chỉ còn có tấm bảng hiệu, cơm áo gạo mì chỉ là con số 0 (không), cho nên ông chủ hiệu Đức-Vọng PHẢI TÍNH XEM ông có đủ tiền hay không để bốc thuốc NHÂN NGHĨA theo toa đã ghi. Ô-Kê, ông thừa khả-năng nên ông mới bảo Đức Ngài ngồi chờ ông bốc thuốc.

    __ Đức Ngài trả lời: “ĐƯỢC, CHÚ ĐỂ MẶC TÔI!”

    ==> Câu trả lời của Đức Hộ-Pháp nó mang ý-nghĩa: “VIỆC ÔNG, ÔNG CỨ LÀM, COI NHƯ KHÔNG CÓ TÔI!"

    Khi ông Đức-Vọng phất “cờ Nhân-Nghĩa” thế-Thiên hành-Đạo thì Đức Hộ-Pháp đã không còn có ở thế-gian nầy.

    Trong cốt truyện, Đức Hộ-Pháp nói về hai người, một người ra toa thuốc, một người hốt thuốc.

    ==> Còn thực-tế, mọi người nhìn thấy chỉ có một mình ông Đức-Vọng một tay cầm toa, một tay bốc thuốc.

    Cho nên, Ngài Trương Tiếp-Pháp nói, Thầy-Đồ tên là ĐỨC-VỌNG là vậy. Tuy rằng hai, nhưng cũng chỉ là một người mà thôi!

    (Mời quý-vị chờ xem tiếp phần 4).

    Núi Bà Đen, ngày 09-12 Đinh-Dậu
    (DL: Thứ 5, 25-01-2018)

    NGUYỄN-THẾ- TRUYỀN

  4. #4

    GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC” – PHẦN 4.

    PHẦN 4 (Mời kéo lên trên để xem phần 1, 2 và 3):



    (Trích):

    “Ngài “dạ” một tiếng, rồi bước theo vị Sư như một cái máy. Vị Sư giục Ngài bước lên ngang hàng để vừa đi vừa đàm dạo cho dễ-dàng. Trên con đường trắng phau-phau, dưới là ánh sáng trong trắng, dịu-dàng, êm ấm, vị Sư thuyết cho Ngài nghe về tinh-thần bác-ái và vị-tha của Phật-Tổ, khuyên Ngài sau này ráng tu để độ chúng-sinh thoát khỏi ách khổ-ải của trần-gian.

    Câu chuyện vừa hết thì cũng thấy vừa hiện ra ở đầu đường phía trước một tòa lầu-đài nguy-nga, một mầu trắng tinh như chạm bằng một viên bạch-ngọc khổng-lồ.

    Đến trước tòa nhà, vị Sư bảo Ngài:

    - Em chờ Qua ngoài này, Qua vào nhà một chút nhé.

    Ngài đứng đợi một mình. Năm phút qua, mười phút qua, rồi nửa giờ qua mà vẫn không thấy vị Sư trở ra. Ngài nóng ruột, gõ cửa gọi:

    - Thầy ơi!

    Cửa vẫn đóng im-lìm, không một tiếng trả lời.

    Ngài gõ cửa, gọi hai ba lần nữa, nhưng chỉ có tiếng Ngài vọng lại, mỗi lần lại càng thêm rõ, làm tăng thêm cái vắng lặng của tòa lầu-đài. Sốt ruột, Ngài đi vòng quanh nhà, tìm xem có lối nào ra vào được chăng. Và nhận thấy tòa lầu-đài có tám cửa giống hệt như nhau, cửa nào cũng đóng im ỉm. Qua mỗi cửa, Ngài lại gõ một lần. Vẫn cái im lặng mênh mang bao trùm tất-cả. Ngài đã thấy hơi chột dạ, định quay lại tìm lối về. Nhưng, bây giờ, Ngài mới nhận ra trước mỗi cửa đều có một con đường trắng chạy về một phía chân trời xa. Tám cửa đều giống nhau, tám con đường chẳng có gì khác nhau, hướng ra tám phương trời. Ngài còn biết chọn con đường nào. Ngài hồi-hộp lo-lắng.”
    (Hết trích).

    Trong cuối phần 3, Đức Ngài định hỏi nhà-Sư về quá-khứ, hiện-tại và tương-lai của Ngài như thế nào.

    Trong phần 4 nầy nói về cái hiện-tại của Đức Ngài.

    Cuối phần 3, khi nhà-Sư xem tướng của Ngài, tức nói về quá-khứ. Tiếp theo, phần 5 nói về tương-lai của Đức Ngài.

    Tướng-pháp và lý-số dựa trên nền-tảng học-thuyết Âm – Dương, cho nên mấy ông Đạo-sĩ và người theo Nho-học rất giỏi về môn nầy. Mấy ông Sư muốn thấu-triệt mọi vấn-đề thì phải dựa vào Bát-Chánh-Đạo để đạt đến trình-độ TRI-KIẾN, vì vậy mà vị Sư già NHÌN THẲNG vào Đức Ngài mà nói rằng: "Trước khi Ta nhập Niết-Bàn, sau 2000 năm, Ngươi sẽ thay Ta hoằng-dương chánh-pháp!".

    Nếu Ngài viết y chang như vậy thì ngày hôm nay, tôi đâu có viết giải-mã chi cho mắc công!

    @@@ Tóm lại, QUÁ-KHỨ của Ngài là ĐỨC PHẬT DI-LẠC. Và bây giờ, chuyển qua phần 4, nói cái hiện-tại của Đức Ngài.

    @@@ Hiện tại, lúc Ngài 18 tuổi, sau khi tham-gia phong-trào Đông-Du thất-bại, Ngài về quê ở Tân-An, nằm chèo queo trên cái sập bán hàng của cô em gái mà than vắn thở dài cho vận-mệnh của dân-tộc, cho thân-phận kẻ mất nước VÔ-KẾ KHẢ-THI.

    - “Em suy-nghĩ GÌ ĐẤY. Thôi hãy đi chơi với Qua!”


    Để làm sáng tỏ vấn-đề, Tôi xin phép sửa câu nầy lại như sau:

    ==> - “Thôi, Em suy-nghĩ CHI NỮA, hãy ĐI CHƠI với Qua!”

    Dầu Ngài có suy-nghĩ bạc tóc cũng không có cách chi để giải ách nô-lệ, cùng lắm là mượn súng Nga – Tàu để đánh đuổi Tây – Mỹ, việc nầy ví như con trâu CHÊ ách cây nhẹ TỰ ĐÚT ĐẦU VÀO ách sắt nặng hơn. Bây giờ, thấy ách sắt nặng quá, nhiều người Việt-Nam MUỐN BỎ ách sắt, TỰ-NGUYỆN ĐÚT ĐẦU VÀO LẠI ách cây. Thật đúng, NÔ-LỆ LÀ CÁC VÒNG LẨN-QUẨN KHÔNG CÓ LỐI THOÁT, đối với chúng ta quả thật là bí lối, nhưng đối với THƯỢNG-ĐẾ chỉ là trò chơi!

    ==> - “Hãy đi chơi với Qua, rồi Qua CHỈ CHO!”

    Đức Ngài “Dạ” một tiếng và bước theo nhà-Sư như một cái máy, giống như người bị chìm tàu giữa biển khơi được Đức Phật ném cho phao cứu-sinh vậy.

    “BÁC-ÁI, VỊ-THA” là phao cứu-sinh giữa biển trần đầy vị-kỷ. “VỊ-KỶ” là tôn thờ cái TA. Nếu cái TA là cá-nhân hay tập-thể nắm quyền-lực trong tay, họ coi sinh-mệnh của người khác như súc vật, sẵn-sàng xẻ thịt đồng-loại để nuôi sống họ mỗi ngày. Những cái TA yếu hơn, họ liên-kết lại để chống cái TA mạnh hơn. Cho nên, quả địa-cầu nầy không lúc nào chấm dứt chiến-tranh!

    Hiện nay, hai (02) cái TA nổi-cộm hơn hết là TA TÀU và TA MỸ. TA gặp TA thì ấn nút bom nguyên-tử, nên cái TA chết sạch!

    Để TỒN-SINH, loài người không còn con đường nào khác ngoài hai chữ “CHÚNG TA”.

    ==> “CHÚNG TA” là sự hòa-hợp giữa người với người. Muốn có sự hòa-hợp thì mình phải thương người (bác-ái), thương người thì người thương lại mới tạo nên sự kết-đoàn. “VỊ-THA” là vì mọi người, là làm đầy-tớ nhơn-sanh không có lương, không quyền-lực thì lo gì trộm cướp và bị đảo-chính chứ!

    Tóm lại, “Bác-Ái và Vị-Tha” là HƯỜN-LINH-DƯỢC CẢI-TỬ HOÀN-SINH cho nhân-loại. Nó không chỉ làm thay-đổi Biển-Khổ thành Cực-Lạc Thế-Giới, mà còn là đường-lối chính-trị siêu hạng không có đối-thủ.

    “Bác-Ái” chính là THƯƠNG-YÊU VÔ-TẬN để mở cửa Bát-Quái-Đài tại Thế.

    Dầu cho Đức Ngài kêu khản cả cổ: “Thầy ơi!", hay là "Cha mẹ ơi! mở cửa!”, thế nhưng, Bát-Quái-Đài cửa vẫn đóng im ỉm. Đây là bằng-chứng rõ-ràng: Mở cửa hay là đóng cửa Bát-Quái-Đài cũng chỉ do một tay của Thượng-Đế, không có chuyện Kim-Quang-Sứ cản trở việc thành Tiên, thành Phật của quý-vị hết!

    ==> Cho nên, mỗi người MUỐN VÀO Bát-Quái-Đài phải TỰ TẠO cho mình chiếc chìa khóa để TỰ MỞ CỬA, hễ quý-vị tự mở cửa Bát-Quái-Đài đặng thì cũng tự mình mở đặng cửa Cực-Lạc Thế-Giới.

    @@@ Cuối cùng, sự tồn-sinh hay là diệt-vong của quý-vị cũng chính do quý-vị quyết-định, dẫu có kêu trời hay là trách đất thảy đều vô ích!

    (Phần 5 sẽ sớm ra mắt cùng quý-vị!)


    Núi Bà Đen, ngày 20-12 Đinh-Dậu
    (DL: thứ Hai, 05-02-2018)

    NGUYỄN-THẾ- TRUYỀN

  5. #5

    GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC” – PHẦN 5. .

    PHẦN 5 (Mời kéo lên trên để xem phần 1, 2, 3 và 4):



    (Trích):

    “Giữa lúc băn-khoăn ấy, Ngài thấy lập lòe ở phía xa có bóng đèn sáng, Ngài nghĩ thầm trong bụng: “Chỗ có ánh sáng kia hẳn có nhà. Ta hãy tới hỏi thăm xem đây là đâu và nhờ người chỉ cho lối về”.

    Ngài bèn hướng theo con đường đi lại phía có ánh đèn. Quả nhiên ở đấy cũng có một tòa nhà mà cửa cũng lại đóng. Ngài đánh bạo gõ cửa hỏi:

    - Có ai ở trong nhà không?

    Im-lìm. Ngài gõ liên-tiếp mấy lần nữa. Vẫn im-lìm. Đang lúc Ngài sắp bấn loạn thì tự-nhiên cửa mở, một tiểu-đồng hiện ra, đầu để ba chỏm tóc phất-phơ, mặt hồng-hào, tròn-trĩnh, dễ thương. Cậu bé bước ra khỏi nhà thì cửa từ từ đóng lại. Cậu chỉ ngay vào mặt Ngài mà nói:

    - Anh có phải là anh Tắc không?

    Ngài giật mình, không hiểu sao cậu bé lại biết tên mình.

    - Ủa, sao em lại biết Qua?

    Cậu bé mỉm cười như triêu chọc:

    - Anh thật vớ-vẩn! Sao tôi lại không biết! Thầy đợi anh ở trong nhà đấy.

    Ngài càng ngạc nhiên:

    - Thầy là ai, hở em?

    - Rồi anh sẽ biết. Đi vô thôi!

    Nói xong, tiểu-đồng quay trở lại, vào nhà. Trước khi bước vào trong nhà, cậu bé ngoảnh lại bảo Ngài:

    - Anh theo tôi nhé!

    Rồi chú tiểu đồng vào. Ngài nhìn theo. Một cảnh tượng làm cho Ngài hơi ớn mình: Phía trong cửa, một con Kim-mao-Hẩu nằm, hai chân trước duỗi thấp xuống, hai chân sau dựng lên cao, mông để sát vào ngưỡng cửa. Chú tiểu-đồng thản-nhiên leo lên mông con Kim-mao-Hẩu, trèo qua lưng, rồi đứng lên chân trước con thú dữ trước khi bước xuống nền nhà.

    Thấy Ngài ngần-ngại, không dám tiến bước, chú bé mỉm cười giục:

    - Có gì mà sợ. Nó không cắn đâu. Anh cứ theo như tôi, đừng ngại gì cả!

    Nghe lời chú bé khuyến-khích, Ngài đánh bạo bước lên mông con linh-vật một cách e-dè, leo xuống lưng nó, bước xuống bả vai rồi nhảy đại một cái ra xa.

    Chú tiểu-đồng thấy thế, liếc nhìn Ngài, sẽ lắc đầu mỉm cười:

    - Anh nhát quá, anh Tắc ạ.

    Ngài biết chú bé muốn giễu mình, nhưng giả vờ như không biết, ngước mắt nhìn chung quanh.

    Cái cửa Ngài vừa bước qua đã tự-động đóng lại, sau con Kim-mao-Hẩu. Ngài và chú bé đứng trong một hành-lang rộng thênh-thang. Theo chiều dài hành-lang, có năm phòng lớn, mỗi phòng có một cửa, mà cửa nào cũng đóng kín mít. Hành-lang dài rộng, cửa ra vào đều đóng, không có đèn đuốc chi cả mà vẫn sáng, một ánh sáng dịu-dàng và trong trẻo. Chú tiểu-đồng thấy Ngài ngơ-ngác nhìn ngắm, liền kéo tay dẫn đến cửa phòng cuối-cùng, để Ngài đứng đấy mà dặn:

    - Anh chờ đây. Lúc nào Thầy kêu, tôi sẽ cho anh hay.

    Nói xong, chú tiến vào, cửa mở ra cho chú bước qua, rồi đóng ngay lại.

    Ngài đứng một mình. Chờ đã lâu, mỏi chân mà cũng chưa thấy tiểu-đồng trở ra, Ngài cũng cố nhẫn đợi chờ, nếu không nghĩ tới trong hành-lang này chẳng phải chỉ có một mình Ngài mà còn có con Kim-mao-Hẩu nữa. Nếu con vật nổi cơn sinh-sự, biết làm thế nào? Hồi-hộp Ngài vội gõ cửa:

    - Em mở cho Qua với.

    Cửa bật mở. Ngài vào. Chú tiểu-đồng quắc mắt gắt:

    - Anh làm chi mà rối lên thế!

    Thoáng nhìn nét mặt Ngài, hắn lại dịu giọng ngay:

    - À! Anh sợ con Kim-mao-Hẩu chứ gì! Anh nhát quá. Thôi ở đây mà chờ Thầy.

    Nói xong, không để Ngài kịp đáp lại, chú bé đi ra lối cửa đối diện mới vào lúc nãy. Còn có một mình ở lại trong phòng, Ngài mới chú-ý ngắm nghía nhìn chung quanh: Đây là một gian phòng dài đến hai mươi thước, rộng đến mười thước, bốn mặt tường cũng như nền nhà là một khối cẩm thạch liền, phẳng, nhẵn lỳ, thực là đẹp. Giữa phòng, có một chiếc bàn hình chữ nhật lớn, mỗi bên kê ba chiếc ghế bành. Ở một đầu bàn lại có kê một chiếc ghế bành nữa, cũng kiểu như sáu chiếc ghế kia, nhưng cao lớn hơn chút ít. Bàn cũng như ghế làm theo một kiểu mới lạ chưa từng thấy, mặt thì bằng cẩm-thạch, vân ngũ sắc, còn chân bàn, chân ghế cùng chỗ dựa lưng, dựa tay đều bằng những dây huyền kết lại vô cùng trang-nhã. Ngài ngắm nhìn không chán mắt.

    Ngài chờ đã lâu. Ngài muốn gọi chú tiểu-đồng, nhưng e hắn gây sự nên lại thôi. Giữa lúc Ngài mong mỏi thì cánh cửa từ từ mở ra, trước một cái hành-lang sâu thăm-thẳm. Từ cuối hành-lang, thấp-thoáng bóng một ông già mặc áo xanh đi lại. Ông cao lớn, râu tóc bạc trắng xóa, áo mầu xanh, tay rộng phất phơ, đầu đội mũ cũng mầu xanh, dáng uy-nghi đường-bệ.

    Ông già bước vào phòng, cửa từ từ đóng lại. Ngài chấp tay xá. Ông già thân-mật đưa mắt hiền-hậu âu-yếm nhìn Ngài suốt từ đầu đến chân. Một niềm hân-hoan từ đâu bỗng chan-chứa trong lòng, Ngài say nhìn vẻ đẹp siêu-phàm của ông già. Ông giống hệt ông già đi với nhà Sư mà Ngài đã gặp trong tiệm thuốc bắc dạo nào, chỉ có cách phục sức là khác. Ông đi thẳng lại chiêc ghế bành lớn ngay giữa, ngồi xuống ung-dung, tự-tại, hai tay đặt lên thành ghế, đầu hơi ngửa về phía sau, trông thật oai-nghiêm, nhưng không kém vẻ hiền-từ.

    Trong lúc Ngài còn ngây-ngất, chăm-chú nhìn từng nét mặt, từng điệu-bộ, từng cử-chỉ, và từng chi-tiết trong cách phục sức của ông già thì ông đã lên tiếng:

    - Con ngồi đi.

    Ngài vâng lệnh, ngồi xuống cái ghế gần nhất. Nhưng ông già chỉ vào chiếc ghế đầu, sát bên tay mặt mà bảo:

    - Con ngồi sang ghế này.

    Thoạt tiên, ông già hỏi thăm Ngài về gia-đình, về bà thân sinh ra Ngài, rồi đến anh Hai, anh Ba, chị Tư, cho đến hết cả mọi người trong nhà. Chỉ có ông thân sinh ra Ngài đã mất rồi thì ông già không hỏi tới. Ngài lấy làm lạ sao ông già này lại hiểu rõ gia-đình nhà Ngài như thế.

    Ông lại chỉ rõ từng nết xấu, từng tính tốt của mỗi người anh em Ngài; sau hết, khuyên nhủ Ngài về đường tu thân, giữ sao cho vẹn đạo đức và tỏ ý đặt nhiều hy vọng vào Ngài trên con đường đạo.

    Ngài ngồi lặng yên kính cẩn, chân-thành lắng nghe những lời thăm hỏi cũng như những lời khuyên nhủ. Ông già lộ vẻ hài lòng, nụ cười tươi nở trên mặt đạo mạo. Ông gọi tiểu-đồng:

    - Con đem bánh cho anh con ăn.

    Tiếng ông già kêu vừa dứt, còn âm vang trong phòng thì cửa đã mở. Tiểu-đồng mang vào đặt trước mặt Ngài một dĩa bạc lớn, trên đựng đầy bánh còn nóng hổi, khói bốc lên thơm phức.

    Ông già giục :

    - Con ăn đi !

    Ngài ngắm nghía dĩa bánh. Đấy là những chiếc bánh bột lọc hình tròn. Chiếc nào cũng hai mầu, nửa đỏ, nửa trắng, xếp theo hình nón. Ngài đưa tay nhắc lấy chiếc bánh trên chóp dĩa, bẻ đôi, đưa lên miệng, ăn rất ngon lành, vì đi mấy quãng đường dài, bụng đang đói ngấu. Hàng bánh thứ hai có ba chiếc. Ngài lấy ăn thêm một chiếc nữa, bụng đã đỡ đói. Còn đương nghĩ không biết có nên ăn nữa hay không thì ông già hình như biết ý giục:

    - Con ăn nữa đi.

    Ngài vâng lời, nhắc đến cái bánh thứ ba, bẻ đôi. Ăn xong phần nhân, thấy bụng no, ngán quá, không sao ăn thêm được nữa, Ngài mới vò hai miếng vỏ bánh, ném xuống gầm bàn.

    Biết Ngài đã no, ông già kếu lấy nước. Tiểu-đồng mang lên một tô lớn bằng vàng, nước đầy tận miệng.

    Đi nhiều, mệt, lại ăn hết hai chiếc rưỡi bánh, Ngài cảm thấy khát quá, uống một hơi hết sạch tô nước. Ngài uống đến đâu, ruột mát đến đấy.

    Đợi Ngài ăn xuống xong, ông già trầm-ngâm thong-thả nói:

    - Hôm nay, con ăn hai cái bánh rưỡi và uống một tô nước. Những thức đó sẽ ám-hợp vào cuộc đời hành đạo của con sau này.

    Đến đây, ông già, như ý không muốn để Ngài có nhiều thì giờ hỏi cặn kẽ, liền truyền lệnh cho tiểu-đồng:

    - Con đưa anh con về.

    Ngài chấp tay vái chào ông già, rồi theo chân tiểu-đồng đi ra. Sực nhớ đến con kim-mao-hẩu, ngài quay lại lại xin ông già con vật đó. Ông già gật đầu bảo:

    - Thôi, con cứ về đi, sau này nó sẽ xuống với con.

    Trở ra, đến chỗ con Kim-mao-Hẩu, tiểu-đồng trèo lên chân trước, leo lên lưng, rồi đứng trên mông nó, thì cửa cũng vừa mở để chú bước ra ngoài, Cửa khép lại sau chú. Con Kim-mao-Hẩu tỏ vẻ hiền lành. Ngài lại gần, nó lè lưỡi liếm tay mơn trớn. Ngài bước lên lưng, leo lên mông nó, thì cửa vừa mở. Nhưng bóng dáng tiểu-đồng đã biến đâu mất. Ngài nhìn xung quanh, lo-lắng: Không có chú dẫn lối thì biết đi đường nào! Ngài kêu lớn:

    - Em ơi !

    Không thấy có tiếng đáp lại, Ngài kêu liền ba tiếng nữa, mới thấy bụi bông lồng đèn trước mắt sột soạt lay động và chủ tiểu-đồng nhảy ra, quát:

    - Anh làm cái chi mà lớn tiếng vậy?

    Ngài phân trần :

    - Qua không thấy em, tưởng em đi đâu, mới phải gọi đấy chứ.

    - Thôi, tôi biết rồi, anh đã bị lạc, bây giờ lại sợ bị lạc nữa chứ gì. Anh lại đây, tôi đeo cho cái này!

    Ngài nhìn thấy chú bé đeo ở cổ và ở mỗi bên tai một vòng hoa. Còn hai tay mang hai vòng nữa, giơ lên, đòi đeo vào hai tai cho Ngài.

    Không muốn làm phật lòng chú bé, Ngài đành phải cúi xuống cho hắn đeo hai vòng hoa lủng lẳng vào tai. Chú bé thích chí phì cười:

    - Thôi, bây giờ, anh theo tôi.

    Hai người rảo bước một lát thì tòa lâu đài tám mặt đã hiện ra trước mắt. Chú bé dẫn Ngài đến một cửa, rồi chỉ hai vết chân in trên bậc:

    - Này anh Tắc, chỗ cửa anh đến còn vết chân anh đây, anh có thấy không?

    Rồi đổi giọng, chú khuyên Ngài một cách rất dễ thương:

    - Lần sau, anh có đi đâu, phải chú ý nhé.

    Nhìn kỹ theo tay chú bé chỉ, Ngài thấy hai vết chân mình còn in rành rành ở đó. Ngài chưa kịp trả lời, chú bé đã tiếp:

    - Từ đây, anh nhớ lối rồi, cứ theo đường cũ mà trở về.

    - Em về cả với Qua cho vui!

    - Bây giờ chưa thể được, anh ạ. Nhưng sau này, thầy sẽ cho phép, em xuống với anh. Thôi, anh về đi, không có ở nhà mong.

    Sực nhớ mình đi chơi đã lâu, chắc ở nhà chờ đợi lắm. Ngài nói vài lời từ biệt chú bé rồi rảo cẳng theo đường về. Đi rảo một lúc, quay lại vẫn còn thấy bóng tiểu-đồng. Ngài gắng sức chạy, Ngài chạy hết sức nhanh, vô ý vấp phải một mô đất, té lộn đi một vòng.”
    (Hết trích)

    ***

    Sau khi Đức Ngài gọi mở cửa Bát-Quái-Đài không đặng, Ngài quyết-định tìm đường về nhà. Nhà của Ngài ở Long-An, tức là cõi trần; cho nên, Ngài thấy ánh-sáng lập-lòe của bóng đèn tận cuối con đường, điều đó chứng-tỏ con đường nầy tối đen như mực, bao phủ khắp toàn-cầu, trong triết-học gọi là BẮC-CÙ-LƯ-CHÂU. dưới quyền cai-quản của Thống-Đốc Kim-Quang-Sứ.

    Ngọn đèn ấy được treo trước cổng Dinh Thống-Đốc. Theo dịch-lý, trong Âm có Dương, “màu đen” là CHƠN-ÂM, và “ánh đèn” là CHƠN-DƯƠNG. Tuy ánh đèn lập lòe nhưng lại làm chủ bóng đêm (màu đen), vì vậy Kim-Quang-Sứ chỉ là Thống-Đốc Bang (màu đen), còn Ông Vua cầm quyền thực-sự lại là Thượng-Đế (ánh đèn).

    "...Ngài kêu cửa đôi ba lần thì một tiểu-đồng ra mở cửa và chỉ thẳng vào mặt Ngài và hỏi:

    - Anh có là Anh Tắc không?"


    Quý-vị có thấy thằng nhóc, tuổi lên năm, đầu để chỏm, chỉ thẳng vào mặt Ngài mà hỏi, hành-động nầy phách-lối, coi thường ra mặt không?

    Dầu Đức Ngài có Chưởng-Quản Tam-Châu, Bát-Bộ là ở xứ nào đó, còn tại vị-trí Ngài đang đứng là cửa ngõ của Thống-Đốc Bang “Bắc-Cù-Lư Châu” Kim-Quang-Sứ. Nó (tiểu-đồng) phải thể-hiện oai quyền của bậc lãnh-đạo chứ! Mà nhất là Ngài đang nhờ cậy nó!

    "... Đức Ngài lại hỏi tiếp:

    - Ủa ! Sao em lại biết Qua?

    - Anh thật vớ-vẩn! Sao tôi lại không biết?"


    Kim-Quang-Sứ chẳng khác nào CẢNH-SÁT KHU-VỰC của Thượng-Đế, cho nên, Ngài hỏi cảnh-sát khu-vực tại sao biết Ngài, đúng là vớ-vẩn. Việc biết rõ về Đức Ngài, đó là trách-nhiệm và bổn-phận của Kim-Quang-Sứ!

    Khi quý-vị đọc “CON ĐƯỜNG THIÊNG-LIÊNG HẰNG SỐNG” của Đức Hộ-Pháp, đoạn mở cửa Cực-Lạc Thế-Giới: Đức Ngài PHÂN THÂN ra làm hai người. Chính Đức Ngài bận đồ TIỂU-PHỤC, ngự trên VÂN-XA; còn một người đứng dưới ĐẤT, bận đồ ĐẠI-PHỤC của Hộ-Pháp, tay cầm GIÁN-MA-XỬ. “Bần-Đạo ở trên mây nghĩ gì, người dưới đất biết, người dưới đất nghĩ gì, Bần-Đạo ở trên Vân-xa biết, giống như hai người là một người vậy!”.

    ==> Đoạn văn nầy ý nói: Khi Đức Ngài cởi xác, quy-Tiên (cỡi vân-xa) thì Phật Di-Lạc đã TÁI-SANH và CÓ MẶT Ở THẾ-GIAN rồi.

    Vậy, quý-vị so-sánh xem, chú-tiểu đầu ba vá và Phật Di-Lạc đứng dưới đất đều hiểu rõ về Đức Ngài, vậy hai người có phải là một người không? Rất khó trả lời, nhưng hai người có điểm tương-đồng (!)

    Tôi còn một bằng-chứng nữa, để chứng-minh hai người nầy là một người:

    Cũng trong “Con đường Thiêng-Liêng Hằng Sống”, Đức Ngài vâng lịnh Đức Chí-Tôn đi mở cửa Cực-lạc Thế-giới.

    Đến Cực-lạc, Ngài thấy Thập-Nhị Thời-Quân chia nhau trấn giữ 04 cửa.

    Ngài kêu mấy vị Thời-Quân lại và hỏi: "TẠI SAO KHÔNG MỞ CỬA?"

    Các vị Thời-Quân liền đáp: “NGƯỜI ẤY KHÔNG CHO MỞ!”

    Đức Ngài hiểu “Người Ấy” là ai, và Ngài nổi giận lần thứ nhất, nổi giận lần thứ hai.

    ==> Theo Đạo-Gia, sự nổi giận chính là “TẨU HỎA NHẬP MA”. Chính lúc đó, Kim-Quang-Sứ đã nhập vào Ngài, cho nên nói rằng, Đức Ngài mở Cực-lạc Thế-giới, hay Kim-Quang-Sứ mở cửa Cực-lạc Thế-giới đều dúng, vì lúc ấy hai người đã thành một người.

    Trách-nhiệm của người cầm bút là NÓI LÊN SỰ THẬT, còn tin hay là không tin là do SỰ TU TIẾN của mỗi người!

    @@ Tiếp theo, "Đức Ngài đi theo chú tiểu-đồng vào nhà, khi bước qua cửa, Ngài phải đạp vào mông và bước đến vai con Kim-Mao-Hẩu, rồi nhảy một cái thật xa".

    + “Kim-Mao-Hẩu” là con HẨU lông vàng, đầu sư-tử, mình kỳ-lân.

    + “Sư-tử” là chúa-tể sơn-lâm, dùng sức mạnh để thống-trị, bây giờ chúng ta gọi là Quyền-lực đó (ĐỜI)..

    + “Kỳ-lân” là chúa-tể tinh-thần, dùng đạo-đức để cảm-hóa, lấy thương-yêu làm nền-tảng (ĐẠO).

    ==> Nếu ĐỜI “làm chủ” ĐẠO không khác nào SA-TĂNG làm yêu ở sông LƯU-SA, bắt người ăn thịt.

    + Còn cú “nhảy một cái thật xa” của Ngài, đây không phải là ‘nhát’, mà là ĐẠO PHẢI ĐỨNG TRƯỚC ĐỜI ('Đạo dìu Đời vận nước mới an"), hay là Tinh-Thần phải LÀM CHỦ Thể-Xác!

    Ở đây, con Kim-Mao-Hẩu quay đầu vào nơi Đức Chí-Tôn ngự, thể-hiện sự GIÁC-NGỘ, giống như Sa-Tăng phò Tam-Tạng đi thỉnh kinh. Sự giác-ngộ nầy, Sa-Tăng đổi tên lại là Kim-Quang-Sứ.

    Nếu quý-vị thấy Kim-Mao-Hẩu nhe nanh ra thì đừng trách mắng nó, vì nó làm theo mệnh-lệnh của Ông Chủ (TRỜI), chửi mắng nó là chửi mắng TRỜI, tội rất nặng!

    ==> Tóm lại, Kim-Mao-Hẩu là hình-tướng của cái ĐẠO trong THẾ-GIỚI HỮU-HÌNH. Vì vậy, người tu-hành phải lấy nó làm PHƯƠNG-TIỆN để trở về với Đức Chí-Tôn (đạp trên lưng nó mà đi).

    @@ Trong suốt giấc mơ, Đức Ngài đã 03 lần gọi mở cửa, và lần thứ 04 Ngài định gọi nhưng Đức Chí-Tôn đã tự mở. Cả 04 lần, tinh-thần đều ở trạng-thái hoảng loạn.

    - Lần thứ 1 (nhất), con người trầm-luân nơi bể khổ, muốn trở thành Tiên Phật thì cuộc đời không phải là CUỘC DẠO CHƠI, nên cửa Bát-Quái-Đài không mở.

    - Và lần thứ 2, 3, 4 chính là ba lần khai mở các tôn-giáo trong Nhứt-kỳ, Nhị-kỳ và Tam-kỳ Phổ-độ. Bởi vì, mỗi lần tinh-thần hoảng loạn thì con người không còn làm chủ bản-thân nữa, cái Ác sẽ thống-trị và xã-hội đại loạn. Cho nên, một Tân Tôn-giáo xuất-hiện để thích-ứng sự tiến-hóa của nhơn-loại!

    Xã-hội hiện nay, thông qua internet thì thiên-hạ đã NHẤT GIA, nhưng cái “TA” của mỗi tôn-giáo đã CHIA CẮT tinh-thần nhơn-loại thành nhiều mảnh, chỉ sớm hay muộn thì CHIẾN-TRANH TÔN-GIÁO xảy ra, một cuộc chiến không có ngày kết-thúc, nó nguy-hiểm hơn vạn lần chiến-tranh nguyên-tử. Chính vì lý-do đó, đích thân Thượng-Đế mở cửa để lập một TÂN TÔN-GIÁO, đó là ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ, là tôn-giáo của “CHÚNG TA” khơi thông dòng chảy cái “TA” ích-kỷ, tự-tôn.

    @@ Tiếp theo, Ngài đi trên hành-lang, bên hành-lang là năm căn phòng đóng cửa im ỉm.

    Đây là biểu-tượng của NGŨ-CHI ĐẠI-ĐẠO: Nhơn-Đạo, Thần-Đạo, Thánh-Đạo, Tiên-Đạo và Phật-Đạo, nó đang đóng cửa im ỉm để BẢO-THỦ cái TA, giống như cái thây ma đang chờ phân-hủy, mùi hôi-thúi của nó sẽ gây dịch bệnh TOÀN CẦU.

    VĂN-MINH VẬT-CHẤT đã đến đỉnh cao CHÚNG TA, cho nên, Ngũ-Chi Đại-Đạo muốn hồi-sinh thì phải tự mở cửa để hòa-nhập vào cái “CHÚNG TA” của VĂN-MINH TINH-THẦN.

    @@ Tiếp theo, Ngài đang đứng trong căn phòng dài 20 mét, ngang 10 mét.

    - Với kích-thước như vậy, đây là hình chữ nhật. NHẬT có nghĩa là ngày, hay là mặt trời (Chúa Sự Sống)

    + Chiều dài ám chỉ ĐẠO (tinh-thần),
    + Chiều ngang ám chỉ ĐỜI (vật-chất).

    Như vậy, căn phòng nầy ý nói, nhơn-loại muốn TỒN-SINH thì mỗi ngày cái tinh-thần phải tiến xa hơn vật-chất.

    “ĐẠO dìu ĐỜI vận nước mới an”, cũng có thể gọi là: “VĂN-MINH TÔN-GIÁO”.

    @@ Tiếp theo, Đức Ngài quan-sát thấy trong phòng có 07 cái ghế, 01 cái để ở đầu bàn, còn lại 06 cái chia làm 02, mỗi bên 03 cái, và Ngài ngồi ghế đầu tiên bên TAY PHẢI của Thượng-Đế.

    Cái ghế của Thượng-Đế ngồi đó là Ngôi Thái-Cực, từ Thái-cực sinh ra Lưỡng-nghi, tức là 02 hàng ghế, “bên tả” là DƯƠNG (ĐẠO), “bên hữu” là ÂM (ĐỜI).

    + Đức Ngài ngồi đầu bàn bên hữu (Âm) hay là Cửu-Trùng-Đài (Đời), theo Đạo-dịch, làm chủ TOÀN ÂM là điểm Chơn-Dương (Đạo), hay là Hiệp-Thiên-Đài. Cho nên, ba cái ghế bên hữu là ghế Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh.

    + Bên tả là Dương (Đạo), theo dịch-lý, làm chủ TOÀN DƯƠNG là điểm chơn-Âm (Đời), cho nên, GIÁO-TÔNG ngồi đầu bàn bên tả, kế tiếp là Chưởng-Pháp và Đầu-Sư.

    + Thượng-Đế ngồi ghế giữa là ông VUA (GIÁO-CHỦ), hai bên tả hữu là văn-bang võ-bá, y như một triều-đình.

    Đóng cửa Hiệp-Thiên-Đài chẳng khác gì giam Vua vào trong ngục. Không Giáo-Tông, không Chưởng-Pháp, lấy cái gì chế-ngự KẺ ĐỘC-TÀI ĐẦU-SƯ TÁM (!?). TÁM, không khác gì TÀO-THÁO mượn danh nhà HÁN để trấn-áp chư-hầu, cũng y như TÁM lúc nào cũng “TUÂN Y TÂN-LUẬT, PHÁP-CHÁNH-TRUYỀN” và “NHÂN DANH HỘI-THÁNH” để che mắt tín-đồ. Đến một lúc nào đó , TÁM sẽ đoạt ngôi nhà HÁN và Đạo CAO-ĐÀI trở-thành ĐẠO NGỤY.

    Tôi nói cho TÁM rõ, người tính không bằng TRỜI tính, TƯ-MÃ-Ý ngồi ở nhà, uống trà, nhịp cẳng chờ “ngao cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi”.

    Vương-triều mới, “Tịch-Đạo ĐẠO-TÂM” sẽ xuất-hiện và Vương-triều muốn cho nhơn-sanh chấp-nhận, nên Ngài Trương-Tiếp-Pháp đã sửa lại thành 12 chiếc ghế, nghĩa là mỗi bên tả hữu là 06 chiếc.

    CHÁNH-TRỊ-ĐẠO bắt-buộc phải HÒA, vì HÒA thì Âm Dương hiệp nhất thì Đạo mới thành.

    Nếu BẤT-HÒA là CHÁNH-TRỊ-ĐỜI, là cắn xé lẫn nhau, tranh giành quyền-lực, dẫn đến người dân sống trong lầm than, khổ hải.

    Đạo HÒA thì 6 + 6 = 12 là Thập-Nhị Khai-Thiên, trường-tồn vĩnh-cửu, mà cũng là Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng, làm Thần Tiên tại thế CỨU-KHỔ chúng-sanh. Cho nên, dầu là Cửu-Trùng-Đài, hay là Hiệp-Thiên-Đài thì mục-đích hành Đạo cũng không ngoài việc CỨU-KHỔ chúng-sanh.

    ==> Nếu CÁI HỘI gì đó treo bảng hiệu "Cao-Đài" mà đi sai mục-đích CỨU KHỔ, thì quý-vị phải định-quyết rằng đó là HỘI MA QUỶ đang giả danh Hội-Thánh.

    Thử nghĩ, tất-cả chúng ta đều là người phàm-tục, ai cũng biết người chết là hết tội, hà cớ gì BẮT BỎ QUAN-TÀI PHƠI NẮNG 48 GIỜ, KHÔNG CHO CHÔN? Thị-uy quyền-lực chăng? Không có đạo-đức thì phải dùng quyền-lực vậy, giống hệt TRỤ-VƯƠNG chặt chân xem tủy, ĐẮC-KỶ mổ bụng xem thai, ... làm cho Trời hờn Đất oán. Gieo nhân thì gặt quả, cuối cùng Trụ-Vương bị chết cháy trên BÁ-LẠC-ĐÀI, còn Đắc-Kỷ bị chém bay đầu bởi GƯƠM LỤC-YỂM.

    Dầu cho TÁM có lên chức “Thái-Thượng-Hoàng” thì CÂN CÔNG-BẰNG cũng dành cho TÁM 96 giờ PHƠI THÂY NGOÀI SƯƠNG GIÓ. TRỜI vốn không thiện mà cũng không ác, mình trồng cây gì thì Thượng-Đế cho quả nấy. Cho nên, con cháu ông TÁM không nên cho rằng người nầy ÁC, kẻ kia ÁC, mà phải tự trách mình không ngăn chặn Cha Ông mình làm ÁC.

    @@ Tiếp đến, Đức Chí-Tôn hỏi thăm về gia-đình Ngài và chỉ rõ tính nết từng người trong gia-đình, khuyên nhủ Ngài về đường tu-thân và đặt nhiều hy-vọng vào Ngài trên con đường Đạo.

    - “Gia-đình” là một tiểu xã-hội, trong gia-đình có 05 người nhưng có tới 10 ý, cho nên mới xảy ra hiềm-khích, xung-đột liên-miên, gia-đình bất-hòa thì thế-giới đại loạn.

    - ĐỂ TRỊ LOẠN, Vua phải đúng “Đạo làm Vua”, Quan phải đúng “Đạo làm Quan”, Cha đúng “Đạo làm Cha” và Con đúng “Đạo làm Con”. Nho-Giáo gọi là TU-THÂN đó vậy. Mỗi cá-nhân giữ đúng Đạo tu-thân thì bể khổ thế-gian trở-thành Cực-lạc Thế-giới. Quý-vị muốn hiểu tu-thân như thế nào hãy xem “Phương-Tu Đại-Đạo” của Đức Ngài.

    ==> Tôn-giáo Cao-Đài là một đại gia-đình. Anh Cả là Giáo-Tông, quyền huynh thế phụ, mà cũng là Giáo-Chủ Nhơn-Đạo, muốn dạy-dỗ em út thì trước-tiên mình phải dạy mình. Anh Cả làm hướng-đạo phải sống gương-mẫu để em út nhìn theo đó mà noi theo. Có thể nói: SỰ TU-THÂN của Giáo-Tông chính là Ngài đang làm việc BÌNH THIÊN-HẠ.

    @@ Tiếp theo, Đức Chí-Tôn sai tiểu-đồng dọn bánh cho Ngài ăn. Đó là những chiếc bánh bột lọc, được xếp theo hình chóp có 02 màu trắng và đỏ, và đựng trên đĩa bằng bạc.

    Bánh hai màu đỏ, trắng, ám chỉ Âm và Dương hợp nhất, hay gọi là Đạo.

    - “Bột lọc” nghĩa là bột được tẻ nhiều nước để cho hết đục, chỉ còn tinh-bột trong suốt, gọi là CƠ SÀNG-SẢY, CHỌN NGƯỜI HIỀN.

    - Bánh được xếp theo hình chóp giống như Kim-tự-tháp, ám chỉ cơ-quan quyền-lực Đạo, cao nhất là Giáo-Tông, thấp nhất là Lễ-Sanh.

    - “Dĩa bằng bạc”, có hai nghĩa:

    + Bạc là tiền bạc, nghĩa là áo mão cân đai do mua bán mà thành Hội-Thánh, thì đây là trường quan-lại sẽ gây khổ cho Đời.

    + Bạc là màu trắng chói chang, không bị rỉ sét theo thời-gian, ám chỉ những tín-đồ đạo-đức nổi trội tại địa-phương được công-cử dự Hội Nhơn-Sanh, công-cử chức-sắc đúng Luật Công-Cử thì đây là Hội-Thánh đặt trên nền-tảng đạo-đức. Đạo phải hữu-dụng cho Đời, giống như chiếc bánh ăn vào cảm thấy no lòng.

    - “Có thực mới vực được Đạo”

    Đạo nào mà nhơn-sanh đói khổ thì Đạo đó cho cơm ăn và giải-quyết cho họ không còn khổ nữa thì nhơn-sanh giành-giựt mà vào Đạo đó.

    ==> Khi chiến-tranh thế-giới thứ 3 xảy ra, nhơn-loại đói meo, kêu than dậy đất. Tôi lạy các ông tu-hành đừng có đứng đó thuyết-giảng “Con đường Thiêng-liêng Hằng sống” nữa, vì nó phi thực-tế, hãy cấp-bách dọn cơm mời họ ăn, tiếp-đãi như thượng-khách. Khi Họ ăn no xong, họ sẽ tự biết Đạo là gì. Không cần quy Tam-giáo thì Tam-Giáo cũng tự quy về một mối.

    @@ Đức Ngài đói bụng quá nên ăn cái bánh cao nhất là ngôi-vị Giáo-Tông và ăn tiếp cái bánh thứ 2 là ngôi Thái Đầu-Sư. Ngài ăn quá ngon nên Tôi không có gì để bàn-luận.

    Nhưng đến cái thứ 3, Ngài ăn cái NHÂN của bánh, còn lớp VỎ ngán quá, ăn không nổi nên Ngài VÒ NÁT BỎ XUỐNG gầm bàn.

    ==> Cái bánh thứ 3 có vấn-đề, nó nằm ở vị-trí Thượng Đầu-Sư. Thượng Đầu-Sư mà lòng NHÂN không có, chỉ có cái vỏ áo mão cân đai. Tôi tin chắc rằng, Ngài ám chỉ Đầu-Sư Thượng-TÁM-Thanh chứ không ai khác! Ngài bóp nát vỏ bánh – tức là tiêu-diệt THƯỢNG-TÁM-THANH, vứt xuống gầm bàn – tức là nhốt Thượng-TÁM-Thanh vào địa-ngục.

    Diêm-Vương triệu TÁM đi rồi thì CƠ ĐẠO VÀ CƠ ĐỜI ĐỀU HANH-THÔNG, tỷ như ăn bánh ngọt xong thì ỰC liền ly nước, nghe quá đã (!)

    @@ Tiếp theo, Đức Ngài theo tiểu-đồng bước ra cửa, nhưng tiểu-đồng không thấy đâu, thấy bụi cây hoa lồng đèn lay động, Ngài kêu lên: Em ơi ? ...

    - “Hoa lồng đèn” còn tên gọi khác là "LẠC-TIÊN". Cậu tiểu-đồng gắn hoa Lạc-Tiên lên tai của Đức Ngài và tai của cậu, giống như phụ-nữ đeo hoa tai.

    - “Lạc-Tiên” nghĩa là Ông Tiên vui-vẻ, ngực to, bụng bự. Đích-thị là Phật Di-Lạc rồi. Như vậy, Đức Ngài và cậu bé tiểu-đồng, là Phật Di-Lạc phân thân làm hai người. Khi nào Đức Ngài kêu: “Em ơi” 3 tiếng thì từ chỗ ẩn thân xuất-hiện làm Phật Di-Lạc.

    @@ Tiếp theo, khi chia tay về nhà. Ngài đi đã xa, nhìn ngoái lại vẫn thấy cái bóng của tiểu-đồng. Hay là tiểu-đồng là cái bóng của Ngài, một người bạn tri-âm tri-kỷ, người ngồi trên vân-xa nghĩ gì, cậu bé tiểu-đồng đứng dưới đất biết hết.

    (Phần 6 sẽ sớm ra mắt cùng quý-vị!)

    Núi Bà Đen, ngày 27-12 Đinh-Dậu
    Chiều 27 Tết Mậu-Tuất
    (DL: thứ 2, 12-02-2018)

    NGUYỄN-THẾ-TRUYỀN

  6. #6

    GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC” – PHẦN 6/6.

    PHẦN 6 (Mời kéo lên trên để xem phần 1, 2, 3, 4 và 5):



    (Trích):

    “Ngài giật mình tỉnh dậy, văng vẳng nghe thấy tiếng kêu khóc bên tai, vội mở choàng mắt ra, thấy chung quanh tấp nập những người: Kẻ thì kéo tóc, người thì giựt tay, lay chân, gọi tên Ngài ầm ĩ.

    Ngài gượng ngồi dậy. Trong lúc mơ màng, Ngài hỏi người nhà:

    - Con chó của tôi đâu ?

    Ra, Ngài còn nhớ con Kim-mao-Hẩu mà Ngài đã hỏi xin ông già siêu-phàm trong giấc mơ kỳ lạ.”
    (hết trích)

    * “Con chó của tôi đâu?”

    Ngài tỉnh lại, nghe tiếng khóc, tiếng la, người thì cạo gió, kẻ thì giựt tóc, như vậy, Ngài đã CHẾT THẬT-SỰ chứ không phải mơ khi ngủ.

    Chết rồi sống lại, Kinh Đại-Tường gọi: “Tái sanh sửa đổi chơn truyền”. Lúc đó Ngài mới hỏi: “Con chó của tôi đâu?”

    - “Con chó” là biểu-tượng của LÒNG TRUNG-THÀNH, Đạo Nho gọi là GIỮ CHỮ TÍN.

    Như vậy, “Con chó của tôi đâu?” là đồng nghĩa với câu hỏi: “NHỮNG TÍN-ĐỒ CÒN GIỮ LỜI MINH-THỆ CỦA TÔI ĐÂU?”

    ==> CƠN SÀNG-LỌC CHẤM DỨT
    VÀ HỘI LONG-HOA MỞ MÀN! ./.

    (Phần 6/6 đã kết-thúc. Mời quý-vị đọc lại từ đầu!)


    Núi Bà Đen, ngày 28-12 Đinh-Dậu. Chiều 28 Tết Mậu-Tuất.
    (DL: thứ 3, 13-02-2018)

    NGUYỄN-THẾ-TRUYỀN



+ Trả lời Chủ đề

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình