+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: 'GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC”

  1. #1

    'GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC”

    (PHẦN 1)

    Đức Hộ Pháp đã tường-thuật giấc mơ thời niên-thiếu vào năm 1927, và cho đến hôm nay, nó (giấc mơ) vừa tròn 90 năm. 90 năm, đối với một KIẾP NGƯỜI, đó là khoảng thời-gian dài vằng vặc, nhưng đối với TUỔI ĐẠO, nó vẫn trong thời-kỳ sơ-khai. Khoảng thời-gian ấy, có người gọi Ngài là bạn, và tiếp nối là lớp con, lớp cháu, hàng triệu triệu tín-đồ Đạo Cao-Đài đã từng đọc “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU” của Ngài.

    Họ chìm vào giấc ngủ mê say theo giấc mơ của Ngài, và họ sẽ bừng tỉnh thức khi biết giấc mơ là SỰ THẬT. Một sự thật trăm phần trăm (100%). Mời quý-vị đọc-giả cùng Tôi đi tìm sự thật trong giấc mơ của Đức Hộ-Pháp.

    Để tiện việc đi tìm SỰ THẬT trong “Giấc mơ thời niên-thiếu của Đức Hộ-Pháp”, Tôi chia tác-phẩm nầy ra làm 5 phần và giải mã theo tuần-tự 5 phần được chia đó.



    PHẦN 1: (trích)

    “MỘT ĐÊM VỀ TRỜI"

    Ấy là tháng Giêng năm Đinh-Mùi (1907). Sau khi tham-gia phong-trào Đông-Du bị bắt hụt, Ngài về quê nhà tạm lánh. Đêm rằm trăng sáng. Ngài ra nằm trên cái sập bán hàng của cô em gái, kê ngay trước hiên nhà. Nhìn ánh trăng hư ảo, tâm-hồn phiêu diêu. Ngài sực nhớ đến bài thơ “THẦN-ĐỒNG VẤN-NGUYỆT” của một ông bạn vong-niên đã ngâm cho Ngài nghe ; và chỉ nghe một lượt Ngài đã thuộc lòng, tưởng chừng như bài thơ đã được in vào trong tâm-khảm Ngài từ tiền-kiếp xa xưa nào rồi. Ngài nằm, đắm đuối nhìn trăng và ngâm:

    Thu thiên dạ thanh quang vân tĩnh,
    Chốn lữ đình thức tỉnh canh khuya.
    Tai nghe văng vẳng bốn bề
    Gương Nga vằng vặc dựa kề quế lan.
    Thấy trăng thêm động lòng vàng,
    Ngâm câu vấn nguyệt cho đang mấy lời.

    Hỏi dì Nguyệt mấy lời sau trước:
    Duyên cớ sao mà được thảnh thơi?

    Nguyệt rằng: Vật đổi sao dời,
    Thân nầy trời để cho người soi chung.
    Làm cho mỏi mệt anh hùng,
    Ngàn thu sương tuyết một lòng thanh quang.

    Hỏi dì Nguyệt có đàng lên tới,
    Chốn thiềm cung phỏng mấy mươi xa?

    Nguyệt rằng: Ta lại biết ta,
    Có cây đơn quế ấy là nhà em.
    Anh hùng thử đến mà xem,
    Kìa gương Ngọc-thỏ nọ rèm thủy tinh.

    Hỏi dì Nguyệt có tình chăng tá?
    Chữ xuân thu phỏng đã nhường bao?

    Nguyệt rằng: Yếu liễu thơ đào,
    Càng lên càng tỏ, càng cao càng tròn.
    Gương Nga vằng vặc chẳng mòn,
    Bao nhiêu tinh đẩu là con cái nhà.

    Nguyệt lại hỏi đến người quân-tử:
    Buổi vân lôi ai giữ kinh luân?

    Ta rằng: Có đấng Thánh-quân,
    Ra tay dẹp loạn, nên thân trị bình.

    Nguyệt hỏi ta ngẩn ngơ, ngơ ngẩn,
    Ta hỏi nguyệt thơ thẩn, thẩn thơ.
    Liễu qua trước gió phất phơ,
    Hương đưa bát ngát, phòng thơ ngạt ngào.

    Tiếng ngâm thơ của Ngài vang vang làm lay động cả ánh trăng khuya, dập dờn như nổi sóng. Tâm-hồn Ngài cũng lâng lâng, nhẹ nhàng như mọc cánh, bay bổng trên chín tầng thinh không cùng với thanh âm trầm bổng của giọng thơ ngâm dâng cao. Một cảm-giác khoan khoái vô-biên tràn ngập lòng Ngài, một khoái-cảm êm ả, nhẹ nhàng, mang mang, không bờ bến. Ngài nhắm mắt đê mê, vừa để lặng lẻ tận hưởng, vừa để phân-tích nguồn khoải-cảm kỳ lạ ấy.” (hết trích).

    Sau khi các bạn đọc xong phần 1, tôi tin rằng các bạn cũng như Tôi đều thừa nhận bài thơ “THẦN-ĐỒNG VẤN-NGUYỆT” quá hay, nó nhẹ nhàng thoát tục và đưa người đọc vào giấc mộng, một giấc mộng êm đềm như TRONG THƠ CÓ NHẠC VÀ HỌA.

    Các bạn đang mơ bởi nội-dung và âm điệu của bài thơ, và Đức Ngài hoàn-toàn khác với các bạn, Ngài đang mơ bởi TỰA ĐỀ bài thơ – “Thần-Đồng Vấn-Nguyệt”, một đề tựa mang nỗi niềm tâm-sự tỏ cùng ai. Ngài tự ví mình như Thần-đồng, mà “THẦN-ĐỒNG” là thiên-tài, là tài-năng của Trời, còn “VẤN-NGUYỆT” là hỏi mặt trăng, mà mặt trăng là CÁI BÓNG của mặt trời.

    ==> Cho nên, “Thần-Đồng Vấn-Nguyệt” nghĩa là NGÀI TỰ NÓI CHUYỆN VỚI CÁI BÓNG CỦA MÌNH vậy!

    Trong các bạn, AI LÀ CÁI BÓNG CỦA NGÀI (?). Nếu là cái bóng của Ngài thì ngay lúc nầy, cái bóng ấy phải lâặp lại câu hỏi (trích):

    “Nguyệt lại hỏi đến người quân-tử:
    Buổi vân lôi ai giữ kinh luân?


    Ta rằng: Có đấng Thánh-quân,
    Ra tay dẹp loạn, nên thân trị bình.

    Nguyệt hỏi ta ngẩn ngơ, ngơ ngẩn,
    Ta hỏi nguyệt thơ thẩn, thẩn thơ.
    Liễu qua trước gió phất phơ,
    Hương đưa bát ngát, phòng thơ ngạt ngào”
    (hết trích).

    Có phải hai chữ “VÂN LÔI” là báo-hiệu trận đại-hồng-thủy? Một trận lũ lụt kinh-hoàng nhấn chìm quả địa-cầu; từ-ngữ mà chúng ta thường dùng để diễn-đạt ý ấy là “TẬN THẾ”.

    - VÂN nghĩa là mây, LÔI là sấm sét, nó là hiện-tượng thiên-nhiên báo hiệu cơn mưa đến.

    Các bạn hãy quan-sát hiện nay BIỂN-ĐÔNG có phải là hiện-tượng VÂN LÔI chăng? Chắc chắn là như thế, vì các Đấng có tiên-tri từ trước rồi.

    Cho nên, muốn biết Đấng THÁNH-QUÂN ra tay DẸP LOẠN VÀ TRỊ BÌNH thiên-hạ bằng cách nào, xin mời các bạn xem tiếp phần 2 trong “Giấc mơ thời niên-thiếu của Đức Hộ-Pháp”.

    Núi Bà Đen, ngày 25-11 Đinh-Dậu (DL: 11-01-2018)

    NGUYỄN-THẾ- TRUYỀN

  2. #2

    GIẢI MÃ “GIẤC MƠ THỜI NIÊN-THIẾU CỦA ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM-CÔNG-TẮC” (PHẦN 2)

    (Mời kéo lên trên để xem phần 1)



    (trích):

    “Và khi mở mắt ra, Ngài thấy chan hòa một thứ ánh sáng huyền ảo, chẳng phải là ánh sáng nóng bỏng của mặt trời, cũng chẳng phải là ánh sáng lạnh lẽo của mặt trăng trên trái-đất. Ánh sáng vừa trong trẻo, vừa dịu dàng, vừa đầm ấm, bàng bạc khắp cả chung quanh. Còn Ngài thì lững thững trên con đường trắng như tuyết, phẳng phiu, sạch sẽ không văng một mảy mai bụi trần, chạy thẳng tắp về phía chân trời xa. Ngài vừa đi vừa tiếp tục ngâm bài thơ “Thần-Đồng Vấn-Nguyệt”.

    Bỗng, thấp thoáng đằng xa đi lại một bóng người. Ngài im bặt, chú ý nhìn. Bóng người tiến lại, trông rõ dần … Cách Ngài vài chục thước, hiển-hiện một vị sư già, nét mặt vô-hạn từ-bi, mình khoác bộ áo cà-sa vàng. Thấy Ngài có vẻ ngơ ngác nhìn, vị sư lên tiếng:

    - Em có nhớ “qua” không ?

    Ngài nhìn lại vị sư, chợt nhớ ra, vội đáp :

    - Dạ!

    ___ (hết trích)

    Thưa các bạn, cái ánh sáng vừa trong trẻo, vừa dịu dàng, vừa đầm ấm, bàng bạc khắp cả chung-quanh đó là ÁNH SÁNG CỦA TRÍ-HUỆ. Người tu-hành phải MỞ CON MẮT GIỮA ra khi mơ, đừng có NHẮM CON MẮT mà mơ thành Tiên Phật, như Hội-Thánh hiện nay, thì xuống Phong-Đô cả lũ.

    Ánh sáng trí-huệ càng ngày càng rộng mở. Khi người tu “LỮNG THƯỮNG” bước trên con đường trắng như tuyết, phẳng phiu, sạch sẽ không văng một mảy mai bụi trần, các bạn hãy VÔ-TƯ NHẸ NHÀNG bước trên CON ĐƯỜNG CỨU KHỔ mà Đức Ngài đã vạch sẵn. Cứ bước đi, khoảng-cách giữa các bạn và Đức Chí-Tôn cũng thu hẹp dần. Một lúc nào đó:

    - “EM CÓ NHỚ QUA KHÔNG ?”

    Cha già Đức Chí-Tôn nào có quên những đứa con của Ngài đang lặn ngụp trong Biển-Khổ “DANH LỢI QUYỀN”!

    - “Dạ !”

    Tức là CON CÒN NHỚ TỚI CHA và cha con gặp nhau là TRỜI VỚI NGƯỜI HIỆP NHẤT. Ấy là ĐẮC ĐẠO RỒI VẬY!

    Có điều, mật-nhiệm mà Đức Hộ-Pháp ẩn giấu trong câu: “Em có nhớ Qua không?”. Đáng lý ra, câu nầy phải viết như vầy:

    - “THÍ-CHỦ CÓ NHỚ BẦN-TĂNG không?”

    Viết như tôi thì đúng với ngôn-ngữ của Nhà-Sư, nhưng không có nghĩa lý gì cao xa cả, còn viết như Đức Ngài thì một ẩn-tàng sâu kín đang chứa đựng trong đó.

    - “EM CÓ NHỚ QUA KHÔNG?”.

    ==> Đây là câu hỏi thông-dụng của người nông-dân Nam-Bộ vào đầu thế-kỷ 20.

    ==> Nghĩa là Thượng-Đế đã có mặt tại thế-gian là một nông-dân Nam-Bộ, nhìn bề ngoài giống Nhà-Sư, nhưng không phải là Sư theo Đạo Phật. Nói thí-dụ điển-hình như mấy ông Tu-Chơn nơi Vạn-Pháp-Cung, nhìn bề ngoài giống Sư, thực-tế là tín-đồ Đạo Cao-Đài. Ông Sư nầy, Đức Hộ-Pháp gọi là “NAM-BÌNH-VƯƠNG-PHẬT”.

    (Mời đón xem tiếp phần 3).

    Núi Bà Đen, ngày 29-11 Đinh-Dậu
    (DL: Thứ 2, 15-01-2018)

    NGUYỄN-THẾ- TRUYỀN

+ Trả lời Chủ đề

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình