(CHÁNH-TRỊ-ĐẠO, BÀI 57).


Sau khi đã minh cái Minh Đức, không thiết tha, không lệ thuộc vào tha vật, con người phải có một quyết định dứt khoát từ bỏ các điều nhiễm cũ xưa nay hư tệ như cờ bạc, rượu chè, gian tham, trộm cướp… nói tóm lại là cái gì tồi phong bại tục đều bỏ hết, sửa lòng cho trong sạch, tịnh dưỡng tinh thần, noi theo con đường Phước Thiện, thì gọi là Tân Dân. Tân Dân là đẳng cấp thứ nhì, từ dưới tính lên, của hệ thống Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng.

Tân Dân mặc Đạo Phục như các Chức Việc Bàn Trị Sự, nhưng không được gắn kèm theo bất cứ thứ gì khác lên, nghĩa là trắng trơn mà thôi. Minh Đức muốn lên Tân Dân, ngoài việc có đủ 3 năm lập công bồi đức còn phải trường trai. Phải trường trai mới thay đổi nếp sống thuận theo lòng Trời là ái vật thương sanh. Tân Dân vẫn tùng một Sở Phước Thiện nào đó, sinh hoạt theo hàng Đạo Sở.

Đức Hộ Pháp dạy: “Tân Dân đứng vào hàng phẩm Thượng Thừa của Thần vị”.

Tại sao đẳng cấp Tân Dân lại đứng vào hàng phẩm Thượng Thừa Thần vị? Vì Thiên Thần, Thượng Đẳng Thần... là những bậc đã có chút ít Thần Thông, tệ nhứt cũng phải đủ oai quyền điều độ được bổn thân mình bất thối chuyển, gọi là “Thần như ý thông”. Phải có đủ Đại Hùng, Đại Lực và Đại Từ Bi mới có Thần như ý thông, mới tinh tấn, bất thối chuyển, mới trở thành Tân Dân và tạo giống Tân Dân cho thời kỳ mới, gọi là thời kỳ văn minh của chủng loại Thần Thông Nhơn.

Ðức Hộ Pháp khi thuyết Đạo tại Ðền Thánh, đêm 29 tháng Giêng năm Mậu Tý (1948), Ngài nói: “Mấy em có biết tương lai nền Chơn giáo nầy của mấy em là tạo đại nghiệp gia đình cho một sắc dân, gọi là Tân Dân của Chí Tôn, để nơi mặt thế nầy, là Thần Thông Nhơn. Mấy em kiếm hiểu hai tiếng "Thần Thông", dầu không thấu lý mà nghe nói tiếng ấy cũng hiểu sự quan hệ của nó ra sao.

Ấy vậy, muốn tạo một tinh thần tới Thần Thông cho sắc dân Tân Dân của Chí Tôn đem đến mặt địa cầu nầy, do trong mấy em hiện tượng ra mà mấy em không tầm cái giống Thần Thông thì làm sao tạo Tân Dân ấy cho được. Cả huyền vi bí pháp của Chí Tôn để tạo Thần Thông Nhơn ấy, mắt mấy em nhìn thấy không biết hình ảnh thì làm sao đạt thành được. Mấy em sẽ làm Cha, làm Mẹ của đám Thần Thông Nhơn ấy mà không có hột giống làm sao tạo hình cho đặng”.


Muốn tạo giống Tân Dân (Tác Tân Dân), ngày xưa, vua Thành Thang phải tự đổi mới đức hạnh hằng ngày để làm gương cho dân. Kinh Thư chép rằng, cái bồn tắm của ngài có khắc một câu văn để ghi nhớ và tự răn mình rằng: “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” (Ví như mỗi ngày một mới, thì ngày ngày phải đổi mới, ngày lại ngày đổi mới).

“Mỗi ngày một mới”,
đó là qui luật biến dịch của vũ trụ bên ngoài, là hiện tượng tự nhiên ai ai cũng phải công nhận; nhưng hiếm khi con người lại nong nả đổi mới thân tâm cho kịp đà dục tấn.

Từ chân lý này, vua Thành Thang đã nói: “Ví như mỗi ngày một mới”; điều này có nghĩa: Nếu ai ai cũng đã công nhận “mỗi ngày một mới” là một qui luật thì phải thực hiện một hệ quả thích hợp với qui luật ấy; đó là: “thì ngày ngày ta phải đổi mới”. Không đổi mới không được; không đổi mới sẽ bị ủng tắc, sẽ bị lạc hậu, sẽ bị đào thải! Ai không đổi mới, sớm muộn gì cũng bị loại ra khỏi dòng tiến hóa. Dân tộc nào không chịu đổi mới cho kịp thời sẽ bị thua sút, tụt hậu so với những dân tộc khác. Vì thế, người ta cứ phải “ngày lại ngày đổi mới” (hựu nhật tân) liên tục không bao giờ ngừng.

Dĩ nhiên, vua Thành Thang không chỉ đổi mới bên ngoài, như là cách sinh hoạt, đổi mới các cơ chế, pháp độ cho thích hợp với thời thế đổi thay; nhưng chủ ý của ngài vẫn nhấn mạnh vào việc đổi mới tâm hồn, làm cho các đức hạnh, các tập quán mỗi ngày một tốt hơn nhắm tới đích chí thiện. Ví dụ: Đã nhân từ thì nhân từ hơn; đã khiêm nhượng thì khiêm nhượng hơn, đã bác ái thì bác ái hơn nữa...

Để làm sáng tỏ chữ “tân dân”, thiên Khang Cáo nói rằng: “Tác tân dân” (Hãy tạo nên sự đổi mới trong dân chúng). Còn Kinh Thi nói: “Chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân” (Nhà Chu tuy là nước đã lâu đời, nhưng có mệnh đổi mới). “Mệnh đổi mới” ở đây có nghĩa là có mệnh Trời thay nhà Ân làm chủ thiên hạ. Nước Chu là một nước nhỏ đã có từ lâu ở miền Thiểm Tây vào thời cổ đại Trung Hoa. Xét về vị trí địa lý, về sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự, nước Chu không có gì đặc biệt hơn các chư hầu khác của nhà Ân. Duy có một điều nước Chu hơn, đó là Chu Văn Vương luôn luôn đổi mới chính mình và khuyến khích dân chúng cũng đổi mới đức hạnh như vậy.

Kẻ nào biết đổi mới chính mình tốt hơn, kẻ ấy sẽ lôi kéo được mệnh Trời về mình. Kể cả phương luyện kỷ để đắc Đạo, Thiên Tánh chỉ nhập thể khi tư duy và thân xác khử ám hồi minh hoán cựu nghinh tân đủ để phù hạp với nó.

Vì thế, những người theo đẳng cấp Đại Học Thiên Đạo, đang học tập trở nên hiền nhân quân tử cũng nên theo đó mà cố gắng hết sức đổi mới cả tâm hồn lẫn thân thể, đổi mới gia đình mình và nếu có cơ hội thuận tiện sau này sẽ đổi mới cả xã hội nhơn quần. Đó chính là Thánh Ý của Đức Hộ Pháp: Muốn tạo giống Tân Dân (Tác Tân Dân) cho Đức Chí Tôn thay Ngươn chuyển Thế thì trước nhứt hãy làm một con người Tân Dân (Kỳ Mệnh Duy Tân).

Mà không chỉ bên Nho Giáo, Phật Giáo cũng vậy. Khi Thái Tử Tất Đạt Đa khám phá ra Tứ Diệu Đề Khổ, Ngài chớm lên ý nghĩ tìm đường giải khổ cho mình và cho chúng sanh. Thế rồi, khi chí nguyện đã chín muồi, vào một ngày trăng tròn của tháng Hai, sau một buổi yến tiệc linh đình trong hoàng cung, Ngài đã cùng với người hầu thân cận Xa-nặc, với con ngựa Kiền-trắc âm thầm từ biệt lối sống vương giả cao sang với bao người thân như cha già, vợ con… rời khỏi kinh thành. Đến bờ sông Anoma, Ngài xuống ngựa dùng gươm cắt tóc, cởi hoàng bào đưa và dặn Xa-nặc về tạ tội với phụ vương, xin hãy tha thứ và đừng tìm Ngài nữa vì từ đây, Ngài đã quyết chí xuất gia tìm đạo cứu chúng sanh. Thế là Ngài đã dứt áo ra đi. Từ đây, mở ra một chân trời mới, một mình một bóng, Ngài đã lặn lội nơi đèo sâu núi thẳm để tìm đạo. Tất Đạt Đa khi rời hoàng thành bỏ ngôi Thái Tử, xả phú cầu bần, xả thân cầu Đạo, khép mình vào một khuôn khổ mới. Khi ấy, Ngài đạt đẳng cấp Tân Dân.



Cái hành động trao trả hoàng bào, vương miện Thái Tử của Tất Đạt Đa, từ chối quyền thừa hưởng gia tài sự nghiệp đế vương của giòng họ Thích Ca, được Hội Thánh Phước Thiện thể chế hóa thành thủ tục lập Tờ Hiến Thân. Kể từ khi Hiến Thân được 3 năm, lên tới bực Tân Dân, thì hành giả đã chết về phần Đời, chỉ còn đời sống Đạo mà thôi.

Tân Dân hành Đạo 3 năm có thể đạt đẳng cấp Thính Thiện, bước vào dòng Thánh.

Hằng Sanh.