+ Trả lời Chủ đề
Kết quả 1 đến 6 của 6

Chủ đề: Phật giáo Hòa Hảo phản đối Học viện Phật giáo VN xúc phạm Đức Huỳnh Giáo Chủ

  1. #1
    Status : Dòng Đời Đang Ngoại tuyến
    Ngày tham gia : Feb 2012
    Bài viết : 146

    Phật giáo Hòa Hảo phản đối Học viện Phật giáo VN xúc phạm Đức Huỳnh Giáo Chủ

    PHẬT GIÁO HÒA HẢO
    THUẦN TÚY
    ------------------------

    TUYÊN CÁO

    Giáo Hội Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy (PGHH TT) vừa phát hiện một tư liệu mang nội dung đả kích giáo lý PHẬT GIÁO HÒA HẢO (PGHH) và nhục mạ Đức Huỳnh Giáo Chủ một cách thậm tệ.

    Tư liệu này là một luận văn tốt nghiệp của Tăng sinh Thích Thiện Huệ tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam, địa chỉ: 750, đường Nguyễn Kiệm, F 4, quận Phú Nhuận, TP.HCM và tư liệu này đang tàng trử tại đây.

    Với những lời lẽ thô bỉ, vô giáo dục, ngụy biện và ngu xuẩn, từ trang 1 đến trang 57 , tác giả Thích Thiện Huệ đã không tiếc lời nhục mạ Đức Huỳnh Giáo Chủ và phỉ bang nền giáo lý PGHH.

    Tất cả sự việc vừa kể đã gây phẫn nộ cùng tột và rộng lớn trong toàn thể 7 triệu tín đồ PGHH.

    Phiên Đại Hội PGHH nhóm tại Huyền Phong Các ngày 26 tháng 11 năm 2012 gồm Đại diện toàn thể các nhóm tín đồ đồng thanh ủy nhiệm Giáo Hội Trung Ương PGHH Thuần Túy thay mặt cho toàn thể anh em PGHH dùng mọi biện pháp để phản ứng với “ Bản Luận văn tốt nghiệp VỀ THỰC CHẤT CỦA ĐẠO HÒA HẢO”.

    Với sự ủy nhiệm này, trong tinh thần HÒA ĐỒNG TÔN GIÁO , Giáo Hội PGHH Thuần Túy đưa ra chương trình hành động 4 bước và được Đại Hội thu hẹp tán đồng:

    Bước thứ nhất: Gởi thư đến Học Viện Phật Giáo Việt Nam yêu cầu xác nhận về luận văn tốt nghiệp này mà quý vị cao tăng đã phê” LUẬN VĂN ĐẠT YÊU CẦU”.

    Bước thứ hai: Yêu cầu Ban Tôn Giáo Trung Ương và Mặt Trận Tổ Quốc là 2 cơ quan quyền lực nhà nước có trách nhiệm điều hành tinh thần đoàn kết toàn dân mở một phiên Hội thảo giữa 2 đối tượng: Một là PGHH Thuần Túy, hai là Đại diện Học Viện Phật Giáo VN và tăng sinh THÍCH THIỆN HUỆ để phân biện.

    Bước thứ ba: Triệu tập một cuộc meettinh tại một tư gia ở Đồng Tháp để nói lên sự phẫn nộ của toàn thể tín đồ PGHH .

    Bước thứ tư: Cực lực lên án hành vi của Thích Thiện Huệ xúc phạm Đức Huỳnh Giáo Chủ và mạ lỵ Giáo Lý PGHH gây chia rẽ tinh thần HÒA ĐỒNG TÔN GIÁO và tinh thần ĐOÀN KẾT DÂN TỘC . Triệt để phản đối Thích Thiện Huệ bước vào vùng PGHH.

    Huyền Phong Các, ngày 27 tháng 11 năm 2012
    TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy
    Hội Trưởng Trung Ương

    LÊ QUANG LIÊM

    --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

    PHẬT GIÁO HÒA HẢO
    NĂM ĐẠO THỨ 73

    THƯ PHẢN ĐỐI

    (Về đề tài: xúc phạm Đức Giáo Chủ và Đạo PGHH)

    Kính gởi: -ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC.TƯ/VN tại HÀ NỘI
    - BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ tại HÀ NỘI
    - UBMTTQ THÀNH PHỐ HCM
    - HỌC VIỆN PHẬT GÍAO VIỆT NAM TẠI TP/HCM

    Chúng tôi xin thẳng thắn gởi thư phản đối trực tiếp đến quí cơ quan chức năng nêu trên, đệ nghị quí vị giải quyết nghiêm khắc về hành vi trách nhiệm của giáo sư hướng dẫn cùng sự phê chuẩn của Hội đồng điều hành học viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM khóa IV (1997 – 2001) đối với bài luận văn tốt nghiệp mang đề tài: “Thực chất của Đạo Hòa Hảo” của tăng sinh Thích Thiện Huệ mang nội dung xuyên tạc vu khống, xúc phạm nghiêm trọng danh dự Đức Giáo Chủ và Giáo lý đạo PGHH. Một Tôn Phái Phật Giáo Dân Tộc Chính Thống đã từng được các chế độ cầm quyền từ trước đến nay công nhận pháp nhân và Cộng Đồng Tôn Giáo thế giới tôn vinh.
    Những chứng cứ chúng tôi đặc biệt chú ý là: tập luận văn tốt nghiệp này có ghi rõ người trực tiếp hướng dẫn là giáo sư Minh Chi – tăng sinh thực hiện: Thích Thiện Huệ có tục danh là Nguyễn Văn Huệ.
    - Phần nhận xét của GS hướng dẫn là “Luận văn đạt yêu cầu" và ký tên (Minh Chi).
    - Phần duyệt xét của Hội đồng điều hành học viện cũng y như trên “Luận văn đạt yêu cầu” và có xác nhận tại TP. HCM, ngày 19/06/2001.
    TM. Hội đồng điều hành được viết tay và ký tên "Thích Giác Toàn"
    - Nội dung bài luận văn với luận điệu bôi nhọ hồ đồ, thái độ hằn hộc kiêu căng được trình bày hai chương có mục lục ghi rõ từng đầu đề xuyên tạc dầy 57 trang.
    Xin được trình bày trước để các cơ quan định liệu, PGHH chúng tôi từng trải qua nhiều pháp nạn, chịu lắm gian truân, nhưng chưa có lần nào chấn động như lần xúc phạm này! Không phải tín đồ PGHH không có cách ứng phó hữu hiệu.. Tôn giáo là lãnh vực nhạy cảm cực kỳ các ông cũng thừa hiểu và tinh thần bảo vệ Đạo Pháp của PGHH đã từng được lịch sử chứng minh các ông cũng đã biết.
    Với vụ việc xúc phạm nghiêm trọng này, kết luận ban đầu của chúng tôi sau khi đọc kỷ nội dung và xác định chữ ký là vụ việc vi phạm có chỉ đạo được hướng dẫn trực tiếp, tăng sinh thực hiện, được sự xác nhận của GS Minh Chi và hội đồng điều hành Học Viện Phật Giao Việt Nam (khóa IV) đồng tình phê duyệt. Vậy về tính pháp lý và hành chính đã đạt yêu cầu, tăng sinh Thiện Huệ được lãnh bằng tốt nghiệp và được nâng đỡ sang Ấn Độ du học do công lao đánh phá hủy báng Đạo PGHH rất tích cực và đạt yêu cầu.
    Nếu sự việc đã như vậy thì tất cả GS Minh Chi và Hội đồng học viện đều là người trong cuộc “đồng hội đồng thuyền” với Thiện Huệ.
    Tới đây trong tiến trình luận tội TT Huệ là can phạm, thì Viện trưởng là Chủ trương, GS Minh Chi và Hội đồng HV/PGVN Khóa IV TP. HCM tất cả là đồng lõa.
    Xin thông báo với cơ quan, toàn thể tín đồ PGHH trong và ngoài nước chúng tôi cương quyết muốn quí vị làm rõ vụ việc đến nơi đến chốn, có tính đến yếu tố Quốc tế. Nhưng trước tiên chúng tôi kiên nhẫn chờ sự thảo luận bước đầu trên tinh thần thẳng thắn ôn hòa, trên cơ sở công bằng chính đáng.
    Thưa các ông! các ông có thấy vụ việc này xảy ra thật hoang đường, vô lý và ngớ ngẫn đến lố bịt không? Là một tủi nhục cho tất cả Tông Phái Nhà Phật, mất cả tính văn hóa bình dân đừng nói tồn tại văn hóa học viện, không mang tính trí thức Đạo Đức, Nhân Văn nào cả, thật là tồi tệ đến không thể tưởng tượng. Xưa nay tuy PGHH không liên quan gì với Học Viện như “nước sông không phạm nước giếng” nhưng chúng tôi vẫn kính trọng học viện vì cái danh hiệu trí thức và tên tuổi thiền sư Vạn Hạnh trước kia. Cứ tưởng học viện là kho tàng quặng pháp cho tăng tài khai thác tài năng, đức hạnh, ai ngờ, thật thất vọng khi biết được nơi đây xưa nay có nhiều điều bí ẩn và bất hạnh khó lường !
    Chúng tôi không hiểu động lực oan nghiệt nào đã khiến những người trong học viện toàn là những kẻ xuất gia, luôn mang trên mình màu thiền thoát tục, lại u mê nông nỗi chẳng kém người đời, rấp tâm hủy báng phật pháp tột cùng đến như vậy, còn gì là giới hạnh của kẻ tu hành ?
    Chúng tôi không sao dằn được con thịnh nộ trước sự vô lý xúc phạm trái đời vô liêm của Thầy trò TT Huệ được!
    Chẳng lẽ do “Nhàn rỗi rồi sinh ra nông nỗi” ?
    Trong tam tạng giáo điển của đức Phật có đến tám mươi bốn ngàn pháp môn, học viện không tìm được một đề tài đạo đức nào bổ ích làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, đến đổi phải hè nhau xâm hại PGHH cho bằng được mới ưng lòng thỏa dạ thôi sao ? Nếu như có bất đồng hay thắc mắc những điều chưa thông suốt về giáo lý PGHH, chúng ta có thể tạo cuộc hội luận thân thiện để cùng bàn luận cho thấu đáu, lựa là phải chọn hạ sách nầy! Có lẽ đã đúng lời của Đức Thích Ca cảnh báo khi xưa: “Vào thời kỳ mạt pháp, ma vương sẽ độn vào Tăng Đoàn làm đệ tử Phật để phá hoại, nhằm trả mối hận không hại được ngài dưới Cội Bồ Đề bên Rạch Ni Liên Thiền. Một nhà đạo đức uyên thâm của PGHH đã nhắc lại lời Phật như trên bằng thơ:

    “ Xưa tả Đạo Ma Vương đã thệ,
    Phá Phật kỳ mạt thế cho tan.
    Lời thời xưa nay đã đến màn,
    Đâu đâu cũng tràn lan khuấy rối”.

    Trên đời mọi sự cố xảy ra đều có nguyên nhân. Nhà thánh triết Hy Lạp Aristote đã nói: “Nếu chúng ta không biết được nguyên nhân tức không biết được sự thật”.
    Tâm đắc ý kiến trên chúng tôi ráo riết truy tìm, quả nhiên “đầu dây mối nhợ” được gói gém cẩn thận trong cuốn TỰ ĐIỂN PHẬT HỌC của tác giả TT. Thích Minh Châu Viện trưởng HV/PGVN, và ý tưởng mấu chốt dẫn đến bài luận văn tốt nghiệp của tăng sinh TT. Huệ nằm trong sự giải thích cụm từ Phật Giáo Hòa Hảo, thể hiện lòng đố kỵ hết sức cực đoan và võ đoán đến bất ngờ! Để độc giả có cở sở khách quan, chúng tôi sẽ phân tích từng nhận định và lối giải thích của ông có trung thực chính đáng hay không, khi viết về Đạo PGHH qua ngòi bút của Viện trưởng ?

    Giải thích tự điển Phật học của Thích Minh Châu Viện trưởng.
    Trước khi làm cuộc “phẩu thuật” tỉ mỉ về bài luận văn cực ác của kiêu tăng TT Huệ. Tôi sẽ chụp 'copy' cắt lớp cuốn Tự Điển Phật Học này trong mục giải thích cụm từ PGHH của Thiền sư Thích Minh Châu Viện trưởng để xác định căn bệnh ung thư ác tính đã hoành hành và đe dọa sinh mạng của nền Phật Giáo VN có nguyên nhân độc tính từ loại Virus nào gây ra, để tìm phương trị liệu cho đúng thuốc...

    Theo ông Thích Minh Châu giải thích trong tự điển Phật học sau:
    “Phật Giáo Hòa Hảo là một Tôn giáo do Huỳnh Phú Sổ ở miền Nam Việt Nam, làng Hòa Hảo, tỉnh Long Xuyên lập ra. (Hiện nay là tỉnh An Giang) Phật Giáo Hòa Hảo thời cực thịnh của nó có hai triệu tín đồ. Tuy về mặt giáo lý, Đạo Hòa Hảo chịu ảnh hưởng nhiều của Đạo Phật, thí dụ: các thuyết Tam Bảo Phật Pháp Tăng, Tứ Ân (Ân Tổ Tiên, Cha Mẹ, Đất Nước, Tam Bảo, chúng sanh nhân loại, Bác chánh đạo….) Nhưng trong thực tế dưới thời Pháp thuộc, cũng như Mỹ chiếm đóng, Hòa Hảo thiên về mê tín, Tổ chức chính quyền riêng và quân đội riêng, làm nhiều việc xa lạ với Phật Giáo”
    Cách giải thích trên phải chăng là một thông điệp quan trọng đưa ra lời cảnh báo, nhằm chuẩn bị phát động cuộc thánh chiến chống lại đạo PGHH, mà giới chủ động thực hiện chính là những tăng sinh nhiều thế hệ được đào tạo trong học viện PGVN tại TP.HCM nơi mà ông Thích Minh Châu đã từng làm Viện trưởng hơn 60 năm cuộc đời trải qua 3 chế độ cầm quyền, một lỷ lục “ngồi lâu tăng kể” (tê cẳng). Hay ít nhất lối giải thích ác ý trên sẽ là đề tài tâm đắc cho tên TT Huệ một đồ đệ thân tín, được ông chắc chiu móm ý cẩn thận, nhằm thực hiện hoài bảo không sáng sủa của ông được trình bày đầy đủ những ý tưởng xuyên tạc, hủy báng tệ hại nhất trên đời trong bài luận văn tốt nghiệp cử nhân mang đề tài: “Thực chất của Đạo Hòa Hảo” đã được ông và nhóm thuộc hạ trong ban điều hành học viện đã mạnh tay ký tên kèm theo lời phê bằng 5 chữ (tội lỗi độc hại) nhất đời.
    “Luận văn đạt yêu cầu”
    Để vong linh ông “Tâm phục khẩu phục” chốn tuyền đài, chúng tôi sẽ lần lượt khách quan phân tích theo đúng từ ngữ và ý tưởng ông đã gởi gấm trong đó, kể cả thái độ lúc ông viết!
    Đoạn đầu ông viết: “PGHH là một tôn giáo do Huỳnh Phú Sổ ở Miền Nam Việt Nam Làng Hòa Hảo, tỉnh Long Xuyên lập ra (hiện nay là tỉnh An Giang)”.
    Mở đầu tôi thấy ông đã ích kỷ và thiếu lịch sự trong cách xưng hô trên văn tự, ông gọi tên tộc của Đức Thầy chúng tôi một cách ngang xương thiếu lễ độ, nếu ông cảm thấy không phục, ông không chịu dùng từ tôn xưng (Giáo chủ) dù rằng Đức Thầy tôi thật sự là Giáo Chủ, thì ông dùng đại từ bình thường trong văn hóa giao tiếp như: (Ông) chẳng hạn để thể hiện mình là người có tính văn hóa và đúng văn phạm câu văn quốc ngữ, tôi biết ông là người có trình độ văn hóa và ngoại ngữ, chỉ vì do lòng dạ hẹp hòi và đố kỵ không kềm chế được, nên ông viết cộc lốc để tỏ thái độ bất kính với Đức Thầy chúng tôi. Sự thiếu tôn trọng đó khiến ông mất bình tỉnh phạm thêm sai lầm sơ đẳng mà học sinh lớp 5 cũng không được mắc phải khi ghi địa chỉ trong sổ liên lạc, hoặc trên góc bì thư, hay ông cố tình “giả khờ” để đọc giả không thể tìm được nguồn gốc Thánh địa hay Tổ Đình PGHH. Ông đã lật ngược trật tự các địa danh, khi viết về nguyên quán Đức Huỳnh Gíao Chủ là: Miền Nam Việt Nam, làng Hòa Hảo tỉnh Long Xuyên (hiện nay là tỉnh An Giang) còn huyện nào ông không viết. Viết địa chỉ kiểu này trên bao thư, người thân ông chắc chắn sẽ chờ dài cổ và ông sẽ bị bưu điện phạt tiền (…)
    Nếu ông bình tỉnh, tốt bụng ông sẽ viết được một câu trong sáng: “Phật Giáo Hòa Hảo là một Tôn Giáo do Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ khai sáng ở làng Hòa Hỏa, huyện Tân Châu, Châu Đốc. Hiện nay là (An Giang) thuộc Miền Tây Nam Việt Nam, ngày 18/05 năm Kỷ Mão (1939)”
    Đoạn thứ 2 ông viết: “Phật Giáo Hòa Hảo thời cực thịnh của nó có khoảng hai triệu tín đồ”. Ông thành kiến với PGHH đến độ mà mỗi câu là mỗi cách khi thị quá đáng. Khi ông dùng chữ “Nó” để thay thế cho cả một nền Đạo có đến 2 triệu tín đồ thời bấy giờ. Từ “nó” là một từ tầm thường, khiếm nhả chỉ cho tất cả những đối tượng không được tôn trọng. Sự xem thường khi thị nầy người dùng, tự phơi bày tính Ngã mạn của tác giả, tính bất nhã ấy lại được viết ra từ ngòi bút của kẻ xuất gia được mệnh danh là “Cao Tăng” Viện trưởng, lại có thêm tính kỳ thị tôn giáo cực đoan.
    Đoạn tiếp thêm ông viết: “Tuy về mặt giáo lý, đạo Hòa Hảo chịu ảnh hưởng nhiều của đạo Phật, Thí dụ: các thuyết Tam Bảo, Phật Pháp Tăng, Tứ Ân (Tổ Tiên, Cha Mẹ, Đất Nước, Tam Bảo, chúng sanh nhân loại, Bát Chánh Đạo….). Nhưng trong thực tế dưới thời Pháp thuộc cũng như Mỹ chiếm đóng. Hòa Hảo thiên về mê tín, tổ chức chính quyền riêng và quân đội riêng, làm nhiều việc xa lạ với Phật Giáo” ở đoạn này ông dùng cặp từ tương phản “Tuy” “Nhưng” bằng xảo thuật rất khó thấy thái độ phủ nhận từng bước của ông về sự tồn tại của Đạo Phật Giáo Hòa Hảo để đi đến kết luận cuối cùng ông loại bỏ hoàn toàn, khi cho rằng PGHH không phải là một tôn giáo như đồ đệ TT Huệ thân tín nhất của ông đã theo ý ông mà nỗ lực phỉ báng nghiêm trọng PGHH, y cho rằng PGHH là một tổ chức chính trị!.
    Nếu được phép viết tự do chắc Thầy trò ông không tiếc một đoạn văn đáng kể kết liểu Đạo PGHH. Nhưng ông và đồ đệ không dám trắng trợn như thế vì PGHH hiện đang có pháp nhân, và ông đã chết!.
    Con người dù khôn đến 100 lần cũng phải có lần dại dột. Lời giải thích của ông về PGHH tôi không dám nói ông bất trí, nhưng chắc chắn “không khôn” và sự đố kỵ này đã theo ông xuống tận tuyền đài, và làm phương tiện tăng thượng duyên cho ông dạo chơi ở 10 khu du lịch sinh thái trong lòng đất.
    Trong đoạn thứ 3 này, ông “chơi chữ” khó thấy khi ông mạnh dạng loại bỏ từ Phật giáo chỉ chừa lại địa danh Hòa Hảo chỉ với dạng “Đạo Hòa Hảo” chứ không phải PGHH, câu này ý ông lại trùng hợp với đồ đệ tâm phúc TT Huệ của ông, hắn đã công khai tuyên bố nhiều lần trong bài luận văn tốt nghiệp “Đạo Hòa Hảo” không phải là tông phái Đạo Phật. Thầy trò ông đã gặp nhau trong thái độ cực đoan này! Ở đây ông chỉ chấp nhận Đạo Hòa Hảo có ảnh hưởng đến Phật Giáo sơ sài thôi chứ không chính thống là Tông Phái Phật Giáo và điều này môn đồ TT Huệ cũng đã từng khoác lác trong tập luận văn đầy ác kiến. Dành giựt danh từ “Phật Giáo” một cách bất công, tật đố như vậy đối với PGHH, chính ông đã giới thiệu cho mọi người biết, ông chưa qua được cửa ải thứ I (tham, sân, si, nhân ngã) để nhập vào cửa thánh, và cũng vì ông vẫn lầy quầy trong lục đạo nên khiến ông lúng sâu trong nhiều lãnh vực khác, và bằng chính kiến đó ông đã kết luận vô cùng võ đoán, cực đoan đến tội nghiệp. Tuy sự tu tập của ông không đến nơi đến chốn. Nhưng ít ra học vị đời thường với cái bằng tiến sĩ cực vị trong Học Viện cũng đủ để ông có những cái nhìn đúng đắn đối với Đạo PGHH bằng kiến thức khoa học biện chứng, tuy kiến thức đời thường nhưng đã từng giúp ông leo lên chiếc ghế Viện trưởng, ông cần cẩn thận mà giữ phẩm giá cho Học Viện.
    Là nhà tu xuất gia sao ông lại dùng nhãn quan của người đời mù mờ khi kết luận đánh giá đạo PGHH y như một “bản án tử hình” với sự áp đặt oan ức động Trời như vậy? ông viết: “Hòa Hảo thiên về mê tín, tổ chức chính quyền riêng và quân đội riêng, làm nhiều việc xa lạ với Phật”. Và trước đó ông ghi cột móc thời gian từ thời Pháp đến Mỹ, tức bao hàm từ 1939 đến 1975 ông không loại trừ sự có mặt của Đức Thầy chúng tôi tham gia trong mê tín. Đến đây là ông giành luôn chữ “Đạo” chỉ còn chừa lại 2 từ Hòa Hảo với nhiều việc làm xa lạ với Đạo Phật, tồn tại như một tổ chức chính trị, Quân sự. Rồi từ 1975 cho đến khi ông chết (2012) không thấy ông nhận định tiếp, có lẽ ông bỏ ngõ để đồ chúng của ông tùy ý thêm vào theo ngẩu hướng (như TT Huệ) có lẽ ông ngầm ý: Nếu còn chút nào cũng chỉ là danh nghĩa, hay cái vỏ như một công cụ quản lý theo đường hướng khác thôi!
    Nếu ông còn sống chắc chắn tôi buộc ông phải trả lời thấu đáu về đề tài: mê tín để so sánh với chùa, chính quyền riêng Hòa Hảo tên gì, Chủ Tịch HH là ai và chủ quyền lãnh thổ nào trên đất nước. nếu quân đội riêng phải có Thống soái là ai ? và nhiều việc làm xa lạ với Phật giáo là việc gì?
    Nếu ông trả lời không suông, chưa biết điều gì sẽ xảy ra! May thay cuộc tra vấn không thể xảy ra vì ông đã chết! Nhưng di sản ông để lại sẽ có hậu quả khôn lường!
    Tóm lại đoạn văn giải thích từ “Phật Giáo Hòa Hảo” ông gởi vào đó 3 nhận định võ đoán, nhằm phủ nhận hoàn toàn về giá trị phẩm chất cũng như sự tồn tại hiện hữu của Đạo PGHH.

    1/- Ông không tôn trọng Đức Thầy chúng tôi và xem khinh tín đồ của Ngài.
    2/- Ông không công nhận PGHH là tông phái Phật Giáo mà chỉ là Đạo Hòa Hảo thôi.
    3/- Cuối cùng ông cũng không thừa nhận là Đạo Hòa Hảo mà chỉ là tổ chức Hòa Hảo có nhiều việc làm xa lạ với Đạo Phật…xét về tổng thể thì tư tưởng đố kỵ của ông đối PGHH và nội dung bài luận văn tốt nghiệp của Thích Thiện Huệ “y chan”.
    Vậy sẽ không oan ức chút nào, khi chúng tôi kết luận ông và TT Huệ là một cặp Thầy trò tâm đắc trong kế hoạch “vu khống”, xuyên tạc, mạ lỵ Đức Giáo Chủ và tín đồ PGHH thông qua quyển Tự điển Phật Học và bài luận văn tốt nghiệp, thật khá khen cặp “Sư, Đồ” rất ăn ý và bản lĩnh.
    Thưa quí cơ quan,
    Trình bày đến đây có lẽ quí vị đã nhận ra chân tướng sự việc và phản ứng mạnh mẽ thẳng thắn của chúng tôi là lẽ tất nhiên. Những chứng cứ và luận giải của chúng tôi cũng không đến nổi mất tính thuyết phục. Phần sau tức phần tranh luận chi tiết với bản luận văn của Thích Thiện Huệ, chúng tôi sẽ gởi đính kèm để quí cơ quan nhận xét, đánh giá mà đưa ra hướng giải quyết thích đáng.
    Trong phạm vi “Thư Phản Đối” này chúng tôi tạm ngưng phần trình bày sự việc để đề nghị với quí cơ quan những yêu cầu như sau:

    1/. Hội đồng Học viện PGVN khóa VII tại TP. HCM cần tổ chức cuộc trao đổi trực tiếp với phái đoàn Nhân Sĩ, chân tu đại diện PGHH.
    2/. Triệu hồi ngay tăng sinh Thích Thiện Huệ về nước để trực tiếp nhận lỗi lầm với toàn thể tín đồ PGHH và quì lạy sám hối trước ngôi Tam Bảo PGHH.
    3/. Thu hồi học vị Cử Nhân của tăng sinh khóa IV và chấm dứt khóa du học Ấn Độ và cho hoàn tục ngay, đồng thời thay đổi nơi cư trú vĩnh viễn .
    4/. Viện trưởng và Hội đồng điều hành cần gởi văn thư xin lỗi toàn thể tín đồ PGHH và bãi nhiệm những thành viên hội đồng điều hành Học viện PGVN – 7 có liên đới trong hội đồng điều hành Khóa IV.
    5/. Thiêu hủy hoàn toàn những sách vỡ, tài liệu, văn bản mang tính xuyên tạc phỉ báng Đạo PGHH mà trước đây có tàng trử và lưu hành. Đặc biệt quyển Phật Học Tự Điển của ông Thích Minh Châu phải cắt bỏ phần giải thích tôn danh PGHH mà ông đã xuyên tạc hủy báng. Tất cả nội dung yêu cầu trong điều 5 cần được hội đồng HV/PGVN ghi rõ trong thông cáo nhằm tránh tái phạm lưu hành những sách vở và tài liệu kể trên.

    Nếu quí cơ quan có tính đến việc cần thiết duy trì sự đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, theo chức năng chính mà Ban Tôn Giáo CP và UBMTTQ VN đã từng cổ súy, cũng nên nghiên cứu sự yêu cầu chính đáng của chúng tôi mà giải quyết thỏa đáng, thì vì tinh thần lợi ích chung cho Dân tộc, Tôn giáo. Chúng tôi lần lượt giải thích động viên đồng đạo chúng tôi tạm thời ngưng phản đối. Nếu ngược lại thì sự tự phát đòi hỏi danh dự Tôn giáo và công bằng đối xử của từng cá nhân tín đồ PGHH sẽ diễn biến thế nào, chúng tôi hoàn toàn không có lý do ngăn cản !
    Trân trọng kính chào đoàn kết.

    Đồng Tháp, ngày 07 tháng 12 năm 2012
    Người viết
    Nguyễn Châu Lang

    Tín Đồ Phật Giáo Hòa Hảo, sinh năm 1956
    Địa chỉ: ấp Tân An – Tân Bình – Châu Thành - Đồng Tháp.
    Điện thoại: 0939 600 138

    Phụ chú:
    Sau văn thư này chúng tôi sẽ gửi tiếp
    40 trang phản biện phân tích toàn diện
    bài luận văn tốt ngiệp của tăng sinh
    Thích Thiện Huệ.

    --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

    Kinh goi: Cu Le Quang Liem

    Hoi Truong Trung Uong Giao Hoi Phat Giao Hoa Hao Thuan Tuy

    NAM MO A DI DA PHAT

    Kinh thua Cu Hoi Truong,
    Chung toi co nhan duoc Ban Tuyen Cao cua Cu Hoi Truong ve viec Tang sinh
    Thich Thien Hue nao do da co nhung loi le tho bi,vo giao duc, nhuc ma Duc
    Huynh Giao Chu cung nhu phi bang nen giao ly cua Phat Giao Hoa Hao.

    Chung toi khong the nao tuong tuong duoc mot Tu Si Phat Giao lai co the
    lam nhung viec nhu vay !

    Chung toi xin hoan toan Ung ho Tinh than noi dung Ban Tuyen Cao cua
    Quy Giao Hoi Phat Giao Hoa Hao Thuan Tuy dong thoi xin Cuc luc phan
    doi viec lam cua Tang sinh Thien Hue - doi lot Ton Giao - nham pha hoai
    Tinh Than Bao Dung, Hoa Dong Ton Giao cung nhu tao su Chia re,
    mat Doan Ket Dan Toc nay.

    Kinh xin Nhat tam ung ho Ban Tuyen Cao cua Cu Hoi Truong.
    PL.2556- Chua Lien Tri ngay 28 thang 11 nam 2012.
    Nay kinh : HT. Thich Khong Tanh.

    -----------------------------------------------------------------------------------



    VRNs (29.11.2012) - Sài Gòn - Một luận văn tốt nghiệp Phật học thuộc Học viện Phật giáo VN đã viết saisự thật lịch sử và xúc phạm đến Đức Huỳnh Giáo Chủ, là điều Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Thuần Túy lên tiếng trong bản tuyên cáo vừa phát hành vài ngày qua.

    Hôm qua, 28.11.2012, Hòa thượng Thích Không Thánh, Tổng vụ trưởng vụ Từ Thiện thuộc Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất đã lên tiếng ủng hộ Bản tuyên cáo nói trên và cho rằng việc Tăng sĩ làm luận văn đó là cố tình phá đạo và gây ra chia rẻ tôn giáo.

    Cũng trong ngày hôm qua, Cụ Nguyễn Quang Liêm, Hội trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) đã gởi một văn thư đến giáo sư Minh Chi và Quý chư tôn, đại đức Học viện để trình bày rõ ý kiến của PGHH.

    VRNs xin giới thiệu văn thư này đến quý vị.

    ---
    PHẬT GIÁO HÒA HẢO
    THUẦN TÚY

    -------------------------

    Kính gởi: -Giáo Sư Minh Chi.
    -Quý Chư Tôn, Đại Đức điều hành Học Viện Phật Giáo Việt Nam
    750,đường Nguyễn Kiệm, phường 4 , Quận Phú Nhuận, TP.HCM.

    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

    Kính thưa Quý vị,

    Giáo Hội PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY (PGHH TT) chúng tôi vừa phát hiện được một tài liệu tàng trử tại Quý Học Viện dưới nhan đề: THỰC CHẤT CỦA ĐẠO HÒA HẢO vốn là luận văn tốt nghiệp của Tăng sinh Thích Thiện Huệ trong khóa học 1997-2001.

    Toàn bộ luận văn này là 57 trang, đều mang một nội dung đả kích Giáo lý PHẬT GIÁO HÒA HẢO (PGHH) và mạ lỵ Đức Huỳnh Giáo Chủ một cách thậm tệ.

    Cái điều đáng buồn nhất là bản luận văn này được Hội Đồng Điều Hành Học Viện duyệt phê: “Luận văn đạt yêu cầu”. Như vậy có nghĩa là Học Viện PHẬT GIÁO VIỆT NAM chánh thức tán đồng việc Thích Thiện Huệ “MẠT SÁT” PGHH.

    Chúng tôi nghĩ Quý vị là những bậc cao tăng , đạo cao đức dày ắt Quý vị đã quá thấm nhuần đạo lý Nhà Phật, xin Quý vị xem xét lại coi việc làm này đúng hay sai?

    Cùng là con nhà Phật mà bới xới, moi móc để mạ lỵ nhau với một bản văn như vậy Quý vị nghĩ xem có đúng với tinh thần Phật Giáo của Đức Thích Ca Mâu Ni chăng?

    Sự việc này đã gây một luồn phẫn nộ cực kỳ nghiêm trọng trong toàn thể 7 triệu tín đồ PGHH mà không lường trước được sự gì sẽ xảy ra. Với tư cách Giáo Hội PGHH không được chánh quyền thừa nhận, chúng tôi cố gắng theo khả năng của mình để dàn xếp trong tinh thần: “cùng là con nhà Phật”.

    Để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi sẽ tổ chức một phái đoàn đến Quý Học Viện để xin được thảo luận với Quý cao Tăng điều hành Học Viện và ông Thích Thiện Huệ.

    Rất mong được Quý vị xem xét ngày nào thuận tiện xin thông báo cho chúng tôi biết. Chúng tôi đang chờ trông.
    Trân trọng,
    Cư Sĩ LÊ QUANG LIÊM

    ----------------------------------------------------------------------------------

    PHẬT GIÁO HÒA HẢO
    THUẦN TÚY

    Kính gởi: Linh Mục Phan Văn Lợi
    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

    Thưa Linh Mục,

    Chúng tôi xin chân thành cảm tạ Quý Linh Mục trong tinh thần tích cực hiệp thông với chúng tôi về vấn đề phản ứng bản luận văn của Tăng sinh Thích Thiện Huệ thuộc Phật Giáo Việt Nam dám xúc phạm Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH.

    Thực ra, với một bản luận văn của một tăng sinh Phật giáo dám cuồng ngôn loạn ngữ xúc phạm Đức Giáo Chủ của một tôn giáo thì khác nào một kẻ loạn trí xòe bàn tay che ánh Thái dương lại ngỡ rằng mình đã làm tối tăm được quả địa cầu, hoặc là giống như một con cóc leo lên được vài nấc thang lại ngỡ rằng mình đã đến cung trăng... đâu có gì đáng để ý, nhưng vấn đề này lại là một bản luận văn của một tăng sinh được tốt nghiệp tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam và do nhiều Giáo sư hướng dẫn, đại thể như Giáo Sư MINH CHI, và được HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM duyệt phê là: “LUẬN VĂN ĐẠT YÊU CẦU” tức là bản luận văn này là lập trường văn học chính thức của PHẬT GIÁO VIỆT NAM và HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM đã cố tình làm mờ đi thuyết ĐẠI ĐỒNG của nhà Phật... và cố tình làm tay sai cho những bàn tay lông lá để gây chia rẽ tôn giáo.

    Đọc hết từ đầu đến cuối suốt 57 trang Bản luận văn của Thích Thiện Huệ với những lời lẽ thô bỉ, vô giáo dục và ngu xuẩn nhằm mạ lỵ Đức Giáo Chủ PGHH và đả kích giáo lý PGHH mà lại là luận văn tốt nghiệp của HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM thì thật là đáng tiếc, đáng tiếc !!!

    Ở cõi thế gian này, vào thời mạt pháp đâu có thiếu gì những chuyện đáng buồn cười như thế này được trùm trong những chiếc chăn ĐẠO LÝ và cuối cùng vẫn phải phơi bày ra ánh sáng của SỰ THẬT.

    Một lần nữa, xin Linh Mục và Quý Linh Mục trong nhóm Nguyễn Kim Điền nhận nơi đây lời cảm tạ chân thành của 7 triệu tín đồ PGHH.

    Kính chúc Quý Linh Mục sức khỏe dồi dào và được ơn trên ban nhiều hạnh phúc trên con đường phục vụ chánh pháp và chánh nghĩa của Dân Tộc.

    Thân kính,
    Cư Sĩ LÊ QUANG LIÊM
    02-12-2012
    Last edited by Dòng Đời; 23-01-2013 at 09:08.

  2. #2
    Status : Dòng Đời Đang Ngoại tuyến
    Ngày tham gia : Feb 2012
    Bài viết : 146

    Học viện PGVN: Rất lấy làm tiếc về luận văn "Thực chất của Đạo Hòa Hảo"



    Luận văn tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh với đề tài: "Thực chất của Đạo Hòa Hảo" của tăng sinh Thích Thiện Huệ - khóa IV (1997-2001) đã làm dấy lên làn sóng phản ứng khá gay gắt trong tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong thời gian gần đây.

    Ngày 03-1202012, Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo gửi công văn đến Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM đăng ký làm việc tìm hiểu về luận văn này.

    Sau buổi làm việc giữa đại diện 02 bên vào ngày 07/12/2012, Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM ra văn bản số 521/CV-HĐĐH ngày 10/12/2012 nêu rõ chủ trương của GHPGVN, quan điểm, cũng như hướng giải quyết sự việc này.

    Chùa Phúc Lâm online sẽ đăng tải loạt bài phê bình luận văn này trong nay mai. Mời độc giả đón đọc. Trước hết xin trân trọng giới thiệu toàn văn công văn này đến bạn đọc.

    Kính gửi: Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo

    Kính thưa quý ban,

    Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM nhận được công văn số 3771/BĐN-BTSTƯ ngày 03-12-2012 của Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo về việc đăng ký làm việc tìm hiểu về luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ - khóa IV (1997-2001) với đề tài: "Thực chất của Đạo Hòa Hảo".

    Để thắt chặt tình đoàn kết, thân hữu giữa 2 tổ chức: Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, sáng ngày 07/12/2012, đại diện Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM đã tiếp phái đoàn đại diện Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại học viện trong tinh thần đoàn kết và tôn trọng.

    Nay, Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh trân trọng phúc đáp như sau:



    1. Chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

    Đoàn kết hòa hợp, tạo sự thân hữu giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam với các tổ chưc tôn giáo hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam, ở khu vực và trên thế giới, trong đó có Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo.

    Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ ngày thành lập cho đến nay, được các cấp Giáo hội từ trung ương đến địa phương, Tăng Ni, Phật tử quán triệt một cách sâu sắc.

    2. Luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ phản ánh quan điểm cá nhân

    Hội đồng Điều hành Học viện luôn mong muốn chủ trương, đường hướng hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được các Tăng Ni sinh quán triệt và nghiêm túc thực hiện. Tuy nhiên, theo quy luật khách quan, con người luôn có những hạn chế vốn dĩ, tư duy đôi lúc chưa được chín chắn, mang tính chủ quan;

    Đối với một số vấn đề được trình bày trong luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ, Hội đồng Điều hành Học viện xin khẳng định rằng đây không phải là chủ trương của GHPGVN, của Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh; đây chỉ là quan điểm cá nhân, tư duy chủ quan khi nghiên cứu về lĩnh vực có liên quan đến Đức Huỳnh Giáo chủ và Phật giáo Hòa Hảo.

    3. Quan điểm của Học viện đối với luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ

    Tương tự như các trường đại học trong và ngoài nước, sinh viên của Học viên tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn. Đối với Học viện, tất cả Tăng Ni sinh sau khi hoàn tất các môn học đều phải làm thêm một luận văn tốt nghiệp để hội đủ điều kiện cấp văn bằng, mang tính chất thu hoạch, bước đầu thực tập nghiên cứu một đề tài dưới sự hướng dẫn của một giáo sư hướng dẫn, chỉ có giá trị nội bộ, không phổ biến;

    Trong phần nhận xét nội dung luận văn, với tư cách là người hướng dẫn, cố GS. Minh Chi có nhận xét: "Luận văn đạt yêu cầu về công phu nghiên cứu và sưu tầm tài liệu. Nên tránh phê phán các tôn giáo khác với lời lẽ nặng nề."

    Điều này cho thấy cố GS. Minh Chi chỉ đơn thuần tán đồng với tăng sinh Thích Thiện Huệ về mặt "công phu nghiên cứu và sưu tầm tài liệu" và cũng đã trao đổi và bày tỏ sự không đồng ý về thái độ phê phán Phật giáo Hòa Hảo của tăng sinh Thích Thiện Huệ;

    Học viện luôn quán triệt chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là nhất quán sự đoàn kết và tôn trọng với các tôn giáo khác; không phê phán trong mọi trường hợp. Vì vậy, Hội đồng Điều hành Học viện rất lấy làm tiếc về sự việc này.

    4. Luận văn tốt nghiệp của tăng sinh Thích Thiện Huệ đã được hủy

    Theo quy định của Học viện, các bài thi và luận văn tốt nghiệp của sinh viên Học viện quá 10 năm sẽ được hủy, vì vậy, luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ đã bị hủy theo quy định.

    Trong quá trình quản lý các bài thi, luận văn tốt nghiệp, bộ phận lưu trữ Văn phòng Học viện đã bảo quản kỹ lưỡng, không phổ biến, không để thoát thoát ra ngoài.

    Do đó, Hội đồng Điều hành Học viện của chúng tôi khẳng định: luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ mà quý vị hiện có là do tăng sinh Thích Thiện Huệ photo để biếu tặng người thân quen khi tốt nghiệp, chính những bản photo này đã tạo nên sự bức xúc trong tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, các vị chức sắc, chư vị lãnh đạo trong Ban Trị sự, quý Giáo hội.



    5. Hướng giải quyết

    Hội đồng Điều hành Học viện sẽ báo cáo Ban thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN về sự việc nêu trên, đồng thời đề nghị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ đạo Ban Trị sự nơi tăng sinh Thích Thiện Huệ thường trì để kiểm điểm, nhận khuyết điểm và xin lỗi Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo cũng như tín đồ Phật giáo Hòa Hảo về tư duy chưa chín chắn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin tôn giáo, cũng như biểu hiện sự chưa quán triệt sâu sắc về chủ trương đoàn kết, thân hữu giữa các tôn giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam;

    Trên tinh thần đoàn kết xây dựng, Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh rất mong nhận được sự cảm thông của Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo và tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đối với sự việc vô cùng đáng tiếc - ngoài ý muốn này.

    Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh xem đây là một bài học kinh nghiệm quý giá trong công tác quản lý, điều hành và không để xảy ra các vấn đề tương tự như trên.

    Kính chúc quý vị an lạc thân tâm, thành tựu tất cả đạo sự.

    Trân trọng kính chào đoàn kết và xây dựng.

    TM. HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH HỌC VIỆN

    PHÓ VIỆN TRƯỞNG HÀNH CHÁNH

    (đã ký và đóng dấu)

    HT. Thích Đạt Đạo

  3. #3
    Status : Dòng Đời Đang Ngoại tuyến
    Ngày tham gia : Feb 2012
    Bài viết : 146

    Vì sao luận văn tốt nghiệp HVPGVN "Thực chất của Đạo Hòa Hảo" bị "ném đá" dữ dội?



    Gần đây, trong tháng 12/2012, văn phòng TW Phật giáo Hòa Hảo đã có văn bản gửi v/p2 GHPGVN cũng như Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, và trên 40 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo từ miền Tây Nam bộ cũng trực tiếp đến HVPGVN tại TP.HCM để khiếu kiện một luận văn tốt nghiệp khóa IV của Tăng sinh T.Thiện Huệ qua chủ đề: “Thực chất của Đạo Hòa Hảo” do cố GS Minh Chi hướng dẫn, HT T.Giác Toàn TM Hội Đồng Điều Hành phê duyệt –“ đạt yêu cầu”.

    Và cá nhân như ông Nguyễn Châu Lang, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cũng có văn thư gửi đến các cấp chính quyền liên đới cũng như Học viện Phật giáo VN tại TP HCM, phản đối.

    Qua chủ đề, cho phép người đọc hiểu được nội dung và khuynh hướng của tác giả muốn nói gì về PGHH. Càng đi sâu vào luận văn, càng thấy tác giả phê phán gắt gao với nhiều ác cảm chủ quan của tác giả đứng trên lập trường kiến giải thiên lệch. Một lý luận được xây dựng trên một học lý cá biệt để phê phán một giáo phái cá biệt, thế mà Hội đồng điều hành chấp nhận là đạt yêu cầu, kể cũng lạ!

    Trong phần dẫn nhập, T.Thiện Huệ nêu lên vị trí địa lý thuận lợi về thổ nhưỡng do sông Mekong đem lại; tác giả thông qua lịch sử khai sơn của chúa Nguyễn Phúc Nguyên khi vùng đất nầy còn tùy thuộc Chân Lạp. Từ cuộc sống thuận lợi tạo cho cư dân có tính tình phóng khoáng cởi mở, thật thà; cọng thêm tín ngưỡng thần linh, chính những điều kiện đó, theo tác giả, người dân đã bị một số người làm chính trị lợi dụng, trong phần dẫn nhập, T. Thiện Huệ viết:

    "Vì vậy trong các cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, một số người đã lợi dụng niềm tin và sự thiếu hiểu biết của người dân bằng loại tín ngưỡng nầy mà lôi kéo họ vào các hoạt động chính trị dưới hình thức của một tôn giáo, đạo Hòa Hảo là một ví dụ điển hình….”

    Ta hãy khách quan nhận xét về những luận điểm chủ quan của tác giả để thấy cái đúng cái sai, cái thật cái giả của một luận văn hướng dẫn Hội đồng điều hành, dẫn dắt cả GS hướng dẫn đi lệc quá xa sự thật về lịch sử của Hòa Hảo, mà Học Viện Phật Giáo cho là luận văn “đạt yêu cầu”.

    Phần nội dung: “Đạo Hòa Hảo là một tôn giáo pha tạp”

    I- Nguyên Nhân lịch sử:

    “Trong lĩnh vực nghiên cứu văn chương, khi tìm hiểu thực nghĩa của một tác phẩm văn học nào đó,ngoài việc tìm hiểu nội dung tác phẩm, chúng ta không thể không nắm vững hoàn cảnh ra đời của tác phẩm đó. Vì sao? Bởi vì đó chính là gợi điểm quan trọng giúp chúng ta hiểu chính xác về ý nghĩa của tác phẩm cũng như tâm tư tình cảm mà tác giả đã gửi trọn trong đó.

    Cũng vậy,với tôn giáo, khi nghiên cứu về giá trị tư tưởng của một tôn giáo nào đó với sự hiện sinh của nó, chúng ta không thể chỉ chú trọng vào vấn đề nghiên cứu nội dung giáo lý mà không tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử của tôn giáo đó. Biết được hoàn cảnh lịch sử cũng có nghĩa là biết được vì sao tôn giáo ấy xuất hiện, và xuất hiện với mục đích gì. Bằng không, chúng ta sẽ dễ bị ngộ nhận và sẽ đưa đến những kết luận sai lầm trong nghiên cứu. Trường hợp nầy đã từng xẩy ra đối với một số người khi nghiên cứu về đạo giáo Hòa Hảo.”…


    Thế thì những tác giả, học giả uyên thâm về tôn giáo, nhất là những tác giả trong viện nghiên cứu tôn giáo của nhà nước và giáo sư hướng dẫn Thiện Huệ - Minh Chi, triết gia Kim Định, Phạm Công Thiện…cũng chưa đúng khi viết về Phật giáo Hòa Hảo – như Thiện Huệ vừa nói.

    Tác già viết: “còn với những kẻ quyền uy thế lực, trong tay có đủ binh quyền, đang muốn thực hiện mộng đế vương thì có bao giờ họ nghĩ đến vì sự an sinh cho dân chúng hơn là mộng vàng của họ? Cũng vì tính vị kỷ của những nhà cầm quyền nầy mà các đảng phái thời bấy giờ gần như có sự hoạt động độc lập với nhau; có những đảng phái còn đối lập với nhau về đường hướng chính trị. Sự đối lập nầy cũng có nghĩa là sự tranh giành quyền thống trị quốc gia giữa các nhà cầm quyền của các đảng phái, thực chất chẳng phải họ hoạt động vì nước vì dân.. Do vậy, cuộc đấu tranh lúc nầy không còn nằm trong phạm vi đánh đuổi thực dân xâm lược, mà còn là sự tranh giành quyền trị quốc giữa các ông vua tương lai của đất nước….”

    “Đạo Hòa Hảo xuất hiện trong hoàn cảnh nầy lại thêm có sự thành lập quân đội, chúng ta không thể không nói rằng nó không liên quan đến chính trị và sự tranh giành quyền thống trị quốc gia….”

    Đây là lối suy diễn hồ đồ của tác giả khi nhìn qua hiện tượng. Thế thì bao nhiêu lực lượng chống ngoại xấm trong lịch sử dân tộc đều là có mưu đồ tranh giành quyền lực, nuôi mộng đế vương???

    Trong phần III ĐẠO HÒA HẢO LÀ GÌ? Tác giả phủ nhận những luận cứ của Bạch Diệp và Nguyễn Trung Nghĩa về sự tha hóa của Tăng sĩ thời bấy giờ. Tác giả viết: … “Căn cứ vào lịch sử PGVN, chưa bao giờ chúng ta thấy có một PG bị “lu mờ mất gốc” để bị thay thế bởi một tôn giáo khác, Phật giáo Hòa Hảo. Rất tiếc, thời kỳ mà Bạch Diệp và Nguyễn Trung Nghĩa cho là PG bị lu mờ thì lịch sử lại cho biết Phật giáo đang trong thời kỳ phục hưng, tức từ khoản năm 1930 đến năm 1945.”…

    Sao tác giả mâu thuẩn vậy? nếu không có suy thoái thì sao gọi là phục hưng? Ai cũng biết suốt thời Pháp thuộc, đa phần chư Tăng đều lập gia thất để duy trì Tam bảo giữa lòng xã hội có khuynh hướng ngã theo Âu học. Tuổi trẻ thích ăn vận theo mode mới và học chữ quốc ngữ, một thời gian dài thiếu tuổi trẻ kế thừa chốn Thiền môn. Lúc bấy giờ Phật giáo sống với xã hội dân dã bằng ma chay đám tiệc cổ truyển khi mà đa số có khuynh hướng chuộng mới nới cũ. Phần lớn các sư bấy giờ thất học, thiếu kiến thức cập nhật thời đại, chữ nho chữ nôm không còn phổ biến trong xã hội, vì thế, Phật giáo không được coi là một tôn giáo mà là một trong những hội đoàn bằng dụ số 10 lúc mãi đến sau 1966 mới được thoát khỏi. Kể từ năm 1930, mới theo khuynh hướng canh tân Phật giáo của Ấn do ông Rảyendachilala, ông Sarat Chandrodas, Ðại đức Anagarica Dharmapala; các cao Tăng Trung Quốc như Ngài Thái Hư Đại sư, và cư sĩ Dương Nhân Sơn; VN mới có các thiện tri thức như bác sĩ Tâm Minh Lê đình Thám, Thiền sư Khánh Hòa, thiền sư Phước Huệ, thiền sư Thanh Hanh đứng ra hợp tác với một ít bậc chân tu để đào tạo Tăng tài chấn hưng Phật giáo. Từ đó mới có các trường Phật học. Vậy T. Thiện Huệ dẫn chứng cho thấy thời Pháp thuộc, trước 1930, Phật giáo rạng rỡ ở đâu? Có bao nhiều chùa được xây cất và bao nhiêu tu sĩ được xuất gia như ngày nay mà bảo không lu mờ?

    Đoạn cuối III, Thiện Huệ viết: “Tuy nhiên, theo chúng tôi, chúng ta không nên dùng danh từ Phật giáo trong Phật giáo Hòa Hảo. Bởi vì, tôn giáo nầy: thứ nhất, nó không phải là một tông phái Phật giáo; thứ hai tư tưởng của nó không mang tính Phật giáo, tức không phù hợp với những lời Phật dạy. Do đó, nếu chúng ta dùng đạo nầy với danh từ Phật giáo ắt hẳn sẽ gây sự ngộ nhận cho nhiều người rằng đây là một tông phái Phật giáo.

    “Tuy nhiên, theo chúng tôi”
    , ngoài Thiện Huệ còn ai nữa mà theo chúng tôi? Cá nhân Thiện Huệ làm luận văn nầy hay cả một tập thể ẩn danh mà xưng là chúng tôi??? Thiện Huệ định nghĩa thế nào là một tông phái Phật giáo? Điều kiện nào để trở thành một tông phái Phật giáo? Một người tin Phật, niệm Phật, hành thiện không đủ để trở thành một tín đồ Phật giáo? Một tập thể có giáo chủ (tông trưởng) có đường hướng sinh hoạt hành thiện, lấy câu niệm Phật làm chủ đích, có nghi lễ, có tổ chức, nguyện vãng Tây Phương…không thể gọi là một hệ phái mang tính Phật giáo, không phù hợp với lời Phật dạy? thế thì có một số tu sĩ xem quẻ, bói toán, phong thủy, bùa thuật…được gọi là Phật giáo? Có những người xem Thiền là cội nguồn của đạo Phật, chê bai Tịnh độ là ngoại giáo, Mật tông bị xem là lệch hướng của đạo Phật, nhưng quá trình tồn tại của các tông phái, chứng minh họ có đủ khả năng giúp hành giả giải thoát phiền trược, sinh thân an lạc và lòng từ vô biên. Từng một thời Bồ Đề Đạt Ma bị Lương Võ Đế xem là tà giáo. Thời gian minh chứng pháp hành chánh hay tà là do đường hướng tu tập của cộng đồng đó có lợi cho xã hội, có ích cho tự thân và có mang màu sắc mê tín hay không, có đem lại an lạc cho hành giả hay không. Không thể lấy vị trí của mình đang đứng mà đánh giá đúng sai với vị trí của người khác. Đó là biên kiến ấu trĩ.

    Tịnh Độ cư sĩ lấy tôn chỉ Phước Huệ song tu; Tịnh Độ cư sĩ chuyên về phòng thuốc từ thiện, Phật giáo Hòa Hảo lấy Tứ ân làm cốt, học Phật tu nhân làm chuẩn, mọi mặt từ thiện xã hội song song với việc tu tập, là một trong những Giáo hội được nhà nước chấp nhận cho sinh hoạt hợp pháp, Thiện Huệ bảo Hòa Hảo không phải là tôn giáo, thì nhà nước hợp pháp hóa sinh hoạt là sai lầm sao?

    Thiện Huệ bảo tư tưởng của nó không mang tính Phật giáo, tức không phù hợp với lời Phật dạy. Vậy tính Phật giáo là tính gì? Thiện Huệ quên rằng tùy duyên bất biến của Phật giáo? Chính vì tùy duyên mà Phật giáo Đại Thừa tuy đi xa Phật giáo nguyên thủy đến độ bị xem là tà giáo ngoại đạo nhưng đã chuyển tải được tinh thần Phật giáo vào mọi tầng lớp và phát triển quảng bá rộng rãi trên thế giới so với Phật giáo nguyên thủy. Chính tùy duyên mà nhà Trần đã chống ngoại xâm phương Bắc, vì thích ứng với tinh thần Tứ ân mà bao Tăng sĩ cởi ca sa khoác chiến bào để bảo vệ đất nước; suốt 2000 năm, Phật giáo đã cùng dân tộc vinh nhục dưới mọi hình thức, và để bảo tồn mạng mạch Phật pháp, đôi khi Phật giáo phải lấm bùn cùng dân tộc. Chẳng lẽ Phật giáo phải đầu tròn áo vuông, chỉ biết gõ mõ mà bỏ mặc thế sự nhiễu nhương cho dân chúng cam chịu trong thời ngoại thuộc???

    Trong phần IV, Thiện Huệ xét về nội dung giáo lý, nói: “Một tôn giáo khi ra đời muốn tồn tại và phát triển được thì tôn giáo đó phải có gía trị của riêng nó”…

    Giá trị của riêng nó là giá trị gì? Có tiêu chuẩn nào ấn định về một giá trị cho một tôn giáo hay chỉ là quy ước trong mọi hành xử? Những tôn giáo có mặt tại Việt Nam, có tôn giáo nào hướng dẫn cho quần chúng về nông nghiệp, giáo chủ và chức sắc nào sâu sát quần chúng, đồng cam cộng khổ cùng tín đồ và xã hội hóa về tính tương quan trong mọi sinh hoạt đời thường hầu nâng đỡ nhau. Hiện nay, có tôn giáo nào hàng ngày cung ứng trên 10 ngàn xuất cơm miễn phí cho các bệnh viện khắp các tỉnh thành phía Nam. Đào giếng, xây nhà, bắt cầu cấp phát học bổng, trợ cấp áo quan cho người nghèo, chuyển viện miễn phí bất kể giớ giấc khi có yêu cầu, mở các quán chay từ thiện giúp dân nghèo mà bản thân họ sống đạm bạc, chay lạt nghiêm túc; Tính tương trợ rất cao; chúng ta đã làm được chưa hay chỉ ngồi trong tháp nhà được trang bị một ít kiến thức, nhìn đời qua lăng kính “khiếm thị” rồi cao ngạo phê phán???

    … “Xét trên bình diện nầy, Hòa Hảo là một tôn giáo được thành lập cách đây không lâu, lẽ ra trong kế thừa, nó phải có tính sáng tạo, khi có sự ảnh hưởng hay tiếp nối tư tưởng, mà hầu như toàn bộ giáo lý đạo nầy, nói chung, đều là sự vay mượn lẫn lộn,thiếu trung thực, thiếu sáng tạo từ những tư tưởng của các tôn giáo có trước như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Cao Đài Giáo…Trong đó chỉ có ba hệ thống tư tưởng của Phật, Khổng, Lão là có ảnh hưởng sâu đậm đến sự hình thành giáo lý đạo Hòa Hảo. Cho nên, trên lập trường tư tưởng, tôn giáo nầy hoàn toàn không có chỗ đứng.”…

    Thiện Huệ nói như con vẹt, không chịu tìm hiểu mục đích khai đạo của Đức Huỳnh mà cứ phát ngôn bừa bãi. Ngài có bao giờ tuyên bố thành lập tôn giáo mới? Mục đích Ngài chấn hưng lại nền đạo đức cổ truyển, một nền đạo đức đã tha hóa trước sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai, lấy đạo Phật làm nền tảng để học Phật từ đó tu sữa nhân cách chứ không phải lấy đạo Phật để sáng tạo ra tôn giáo mới hay lấy Phật giáo để lừa bịp nuôi sống bản thân. Đã không có mục đích sáng lập tôn giáo mới thì sáng tạo làm gì thuộc về lý thuyết trừu tượng viễn vông, trong khi đó Ngài dành thời gian để khuyến nông, giáo dục quần chúng, chữa bệnh giúp đời và chống ngoại xâm một cách thiết thực, chứ không ngồi đó mà phê phán ấu trĩ như Thiện Huệ.

    … “Đọc Sấm giảng và thi văn chúng ta thấy hình ảnh đức Di Đà và pháp môn niệm Phật luôn được Huỳnh Phú Sổ đề cập và tán dương, điều đó cho thấy ông rất coi trọng pháp môn nầy, và tín đồ của ông chắc chắn sẽ y đó mà tu”…

    Viết như thế mà Thiện Huệ vẫn không thấy mục đích của Đức Huỳnh; Ngài đã chọn pháp môn niệm Phật để tu và dạy bá tánh tu thì Ngài đâu phải lập ra tôn giáo mới. Tịnh độ là bổn môn, làm điểm tựa cho tín đồ tu tập song song việc hành thiện tu nhân thì có gì mà sai phạm?

    Thiện Huệ trích một đoạn trong sấm giảng: “Đức Di Đà truyền mở đạo lành/ Bởi vì ngài thương xót chúng sanh/ Ra sắc lệnh bảo ta truyền dạy/ Nên khổ lao khùng không có ngại/ Miễn cho đời hiểu đặng đạo mầu,/ Ai muốn tìm đạo cả cao sâu,/ Thì hãy dẹp tánh tình ích kỷ,/ Mau trở lại đừng theo tà quỷ./ Tham, sân, si chớ để trong lòng/ Phải giữ lòng cho được sạch trong,/ Mới thoát khỏi trong vòng bệnh khổ”.

    Rồi phê phán: …”Thế nhưng, khi nhìn thấy hình ảnh đức Phật Di Đà mà Huỳnh Phú Sổ đã diễn tả ở trên,lòng tôi cảm thấy phát sanh sợ hãi, và chắc chắn tôi sẽ không bao giờ dám phát nguyện tu hành để được sanh về thế giới của ngài.

    Đức Phật sao lại quá cao xa đầy quyền uy thế lực như một đấng quân vương có thể sai khiến bất kỳ thần dân nào làm gì cũng được? Và hình như Ngài không có sự gần gũi chúng sanh như các vị Phật, Bồ Tát khác? Nên dù có thương xót chúng sanh ngài cũng chỉ “ra sắc lệnh” cho Huỳnh Phú Sổ xuống trần giáo hóa, đặc biệt chỉ là giáo hóa những chúng sanh sống ở miền Nam nước Việt:

    “Khùng vâng lệnh Tây phương Phật tổ/ Nên giáo truyền khắp cả Nam kỳ”


    Thiện Huệ nói: "Thế nhưng, khi nhìn thấy hình ảnh đức Phật Di Đà mà Huỳnh Phú Sổ đã diễn tả ở trên, lòng tôi cảm thấy phát sanh sợ hãi, và chắc chắn tôi sẽ không bao giờ dám phát nguyện tu hành để được sanh về thế giới của ngài."

    Thiện Huệ sợ là phải vì Tham, sân, si còn ở trong lòng, tánh ích kỷ còn chưa dẹp hết, thì làm sao phát nguyện về cỏi Tịnh của Ngài được. Khi Thiện Huệ đọc đoạn thi trên, đầu óc Thiện Huệ đặc cứng sự cố chấp mà quên rằng hình ảnh ẩn dụ của đức Huỳnh khác nào trong kinh Pháp Hoa đầy dẫy sự ẩn dụ để thích ứng với trình độ đương cơ! Và Ngài đã nhân cách hóa hình ảnh đức Di Đà cho phù hợp với tâm lý quần chúng. Rất tiếc những năm học Phật của Thiện Huệ chỉ là con gà mổ cát sỏi, không được tiêu hóa, uổng cơm bá tánh. Thiện Huệ lại nói:

    Đức Phật sao lại quá cao xa đầy quyền uy thế lực như một đấng quân vương có thể sai khiến bất kỳ thần dân nào làm gì cũng được? Và hình như Ngài không có sự gần gũi chúng sanh như các vị Phật, Bồ Tát khác? Nên dù có thương xót chúng sanh ngài cũng chỉ “ra sắc lệnh” cho Huỳnh Phú Sổ xuống trần giáo hóa, đặc biệt chỉ là giáo hóa những chúng sanh sống ở miền Nam nước Việt:

    Thiện Huệ quên rằng chư Phật quá khứ, Đức Thế tôn hiện tại và Phật Di Lạc vị lai cũng đều là những Bồ Tát bổ xứ. Trong kinh đại thừa, thấp thoáng hình ảnh của chư Phật đều chọn Thiên Trúc làm nơi giáo hóa, thì đức Huỳnh chọn giáo hóa chúng sanh phương Nam nước Việt có gì là lạ theo hạnh nguyện của các Ngài? Phương tiện quyền xảo của chư Phật, chư đại Bồ Tát, chư hiền thánh Tăng, chư Đại minh sư không nhất thiết rập khuôn giống nhau trong lúc giáo hóa. Nhà Phật có ông Thiện, ông ác thì Thiện Huệ thắc mắc như vậy cũng hơi bất bình thường.

    Thiện Huệ lại tiếp tục xuyên tạc mạt sát đức Huỳnh:… “Huỳnh Phú Sổ tự cho mình là Thánh nhân từ cỏi nước Lạc Bang xuống đây dạy đạo cũng đồng nghĩa với quỷ ma tự xưng Phật.Do đó, những lời nói của ông không đáng tin cậy.”…thế thì đức Thế tôn cũng từ cung Đâu Suất hạ sanh theo vị thế Bồ tát bổ xứ cũng là quỷ ma tự xưng sao? Thiện Huệ không phân biệt thế nào là tự tánh lưu xuất và vọng tánh tự xưng. Chẳng lẽ sau 49 năm giáo hóa, đức Phật bảo ta không nói lời nào là vọng ngữ hay sao? Đã là Thánh nhân thì bất cứ lời nào cũng đều đúng. Đã là phàm Tăng dù áo mão chỉnh chu, bằng cấp đầy người, tướng mạo đoan trang, cắn hạt cơm không bể, nói lời trí thức chưa hẳn đã là đạo đức.

    Trong một đoạn Thiện Huệ trích: … “Dù Tiên, Phàm, ma, quỷ, súc sanh – cứ nhất tâm, tín, nguyện, phụng hành – được cứu cánh về nơi an dưỡng. – chỉ một kiếp Tây phương hồi hướng. – thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi. Thiện Huệ lại phê phán: “Huỳnh Phú Sổ đã quên hết tất cả, quên hết những nhân duyên quả báo của từng loại hình chúng sanh đang sống nơi đây. Ông cho rằng”dù Tiên,phàm,Ma, quỷ, súc sanh” đều có thể tu hành sanh về Lạc quốc….”Điều đó chứng tỏ Huỳnh Phú Sổ là người thích nói: nói như vẹt, nói không suy nghĩ, không căn cứ không cơ sở đã tạo nên những lầm lỗi không thể dung thứ mà ông không hề hay biết".

    Nói như Thiện Huệ thì nhân duyên quả báo của chúng sanh chưa trả dứt sao vãng sanh Tây Phương cực Lạc theo tông môn Tịnh độ? Thiện Huệ vẫn còn nhớ kinh Pháp Hoa phẩm “Hóa Thành dụ” phẩm “phương tiện” phẩm “Thí dụ”…làm gì có thành thật, làm gì có ba thừa, làm gì có xe hưu, xe dê…chẳng lẽ những ẩn dụ phương tiện đều là sai? Cái sai của Thiện Huệ dùng trí phân biệt của phàm tục phê phán vô phân biệt trí của Thánh nhân rồi phán một cách ngạo mạn là không thể dung thứ.

    Trong phần b. Tư tưởng Thiền Tông của số IV nói về Nội dung giáo lý, Thiện Huệ viết: “Với Huỳnh Phú Sổ, người tu sĩ phải là người không cần đến hình thức, không chú trọng đến đầu tóc, không cạo đầu cũng vẫn là người tu ”tu đầu tóc không cần phải cạo”.Câu nói nầy thoạt đầu mới nghe, chúng ta cứ ngỡ ông là một Thiền sư uyên thâm đạo hạnh, đã vượt thoát được mọi lãnh vực thuộc phạm trù hình thức. Nhưng xét cho cùng, đó lại là một câu nói công kích phỉ báng táo tợn. Nếu bảo người tu không cần phải cạo bỏ râu tóc cũng có nghĩa là bảo họ để tóc.”

    Đức Huỳnh đang dạy đạo lý tu nhân làm người cho tín đồ tại gia lúc bấy giờ chứ không phải Ngài đang giảng đạo cho tu sĩ Thiện Huệ; chẳng lẽ Ngài bảo mọi người đều cạo đầu làm Tăng thì ai sản xuất, để cúng dường người xuất gia? Khuyên người tu tại gia không cần phải cạo tóc chẳng lẽ là sái quấy, sao bảo là công kích phỉ báng táo tợn? Thiện Huệ ưa suy bụng ta ra bụng Thánh nên chột dạ khi bị chạm nọc thế thôi. Thiện Huệ kết án đức Huỳnh giống “sứ giả sự thật” kết án cô Hương Nhũ cũng vấn đề “tu đầu tóc không cần phải cạo”, bị dư luận tát nước bẩn vào mặt mà không có lời tự biện. Thiện Huệ nầy trình độ cũng chỉ đến thế thôi. Trong Thiền môn chúng ta không thiếu các Thiền sư để tóc, Bồ Đề Đạt Ma, Lai Quả Thiền sư, Tuệ Trung thượng sĩ, thậm chí Ngài Duy Ma Cật... Mục đích Thiện Huệ nêu ra để nhục mạ chứ không phải không hiều vấn đề nầy. Thiện Huệ lý luận ấu trĩ: “Nếu bảo người tu không cần phải cạo bỏ râu tóc cũng có nghĩa là bảo họ để tóc.”…nói như Thiện Huệ thì: - “không nên xem cải lương có nghĩa buộc họ phải xem phim hề”? bảo Thiện Huệ không nên nói bừa có nghĩa bảo Thiện Huệ câm? thế thì Thiện Huệ lại vướng vào lý luận nhị nguyên, chưa thoát ra vòng đối đãi mà lại công kích phê phán lời dạy phương tiện cho quần chúng còn mê đắm trong vòng đối đãi.

    Cũng trong mục phê phán tư tưởng Thiền tông, khi Thiện Huệ so sánh tinh thần trách nhiệm với giang san xã tắc của các thiền sư đời Lý Trần, Đinh Lê và Đức Huỳnh: … “Các Thiền sư chủ trương, trong lúc phụng sự dân tộc, thực hành nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với đất nước, người tu sĩ vẫn giữ vững đạo tâm, không để “một lần phôi pha”. Nhưng với Huỳnh Phú Sổ thì lại khác, ông cho rằng, khi có giặc, người tu sĩ liền”rứt áo cà sa khoác chiến bào”, cho đến khi nào “ngọn cờ độc lập phất phơ cao” thì coi như đã làm tròn trách nhiệm của người trai. Lúc đó, người tu sĩ mới có thể an tâm trở lại đời sống tu hành như trước: “Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô”.

    Trình độ Thiện Huệ thế nào mà không hiểu nỗi chữ “đạo tâm” và “hành trạng tu tập” khác nhau? Đạo tâm thì lúc nào không có, nhưng ngồi một chỗ công phu bái sám sao được khi đất nước còn loạn lạc? Chẳng qua vạch lá tìm sâu do tâm địa nhỏ nhen đố kỵ của Thiệh Huệ mà có thôi.

    Luận về giáo lý, Thiện Huệ dùng luận lý sơ đẳng để đối lập với bình đẳng tánh khi đức Huỳnh hướng dẫn quần chúng về thập thiện. Đồng ý trong cặp đối đãi nhị nguyên, không làm ác chưa hẳn đã làm thiện, nhưng ác là mặt trái của thiện, ánh sáng là mặt trái của bóng đêm, khi ánh sáng đến thì bóng đêm tự diệt. bóng tối lui thì ánh sáng tự hiển lộ. Khi không còn niệm ác thì tâm thiện tự hiển lộ, sẽ tự hướng dẫn mọi hành động đều làm thiện; Trình độ sơ cơ khuyến thiện tránh ác, nhưng vượt khỏi đối đãi thì thiện ác cũng chỉ là một. Ông Thiện ông ác trong chùa cũng chỉ là một vị Bồ Tát thị hiện cho thích ứng với từng căn cơ chúng sanh. Thiện Huệ dùng cái vòng lẫn quẩn của trẻ con:’cắc ké là mẹ kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké”…để phản bác hết sức vô duyên.

    Thiện Huệ phê phán Đức Huỳnh ảnh hưởng tinh thần Nho gia và Đạo giáo, không riêng đức Huỳnh mà giòng máu tộc Việt ít nhiều ảnh hưởng nguồn gốc đó, vì thế cổ nhân mới bảo:”Tam giáo quy nguyên”. Ngay cả một số chùa, kiến trúc không tránh khỏi ảnh hưởng văn hóa Tàu, trên nóc chùa, cột chùa, cổng tam quan thường có cặp rồng hoặc Long Lân quy phụng, lưỡng long tranh châu, thậm chí trong chùa còn thờ Thần tài thổ địa, Quan Công; Tụng niệm khấn nguyện vẫn xài theo văn Tàu…Thế thì Đức Huỳnh dạy dân pha màu Nho gia, Đạo học song hành với Phật lý có gì là sai? Người dân cũng ảnh hưởng sấm trạng trình nên đức Huỳnh dạy dân cũng phải thích nghi tập tục đó. Ngày nay, khoa học phổ biến, người dân tại các quốc gia phát triển còn tin vào ngày Tận thế thì thử hỏi dân ta vào thế kỷ 19 trở về trước sao tránh khỏi ảnh hưởng nền văn hóa nô dịch ngàn năm của Tàu? Trong những ngày của tháng 12 năm 2012, một vài giảng sư của Phật giáo ở miền Tây Nam bộ, cũng vin vào tin Tận thế mà suy diễn lung tung trong ba ngày đen tối, ác thú trùng độc giết hại con người gây hoang mang sợ sệt cho người nhẹ dạ, như thế đâu thể kết án những gì đức Huỳnh dạy cách đây gần 80 năm! Các minh sư, Thánh nhân không thể phủ nhận tập tục văn hóa đương thời mà luôn nương vào đó để dạy dỗ dân chúng. Đức Phật cũng không thể phủ nhận lễ tục của các ngoại đạo đương thời, Ngài vận dụng trí huệ để hướng dẫn lễ “lục phương” có ý nghĩa đạo đức hơn là mê tín. Đức Huỳnh Phú Sổ cũng không vượt ngoài quy luật đó khi nói đến tiền định, thiên mệnh và vẽ ra viễn cảnh bồng lai như một “hóa thành dụ” trong kinh Pháp Hoa vậy..

    Đức Huỳnh nói theo tinh thần nhà Phật, cuộc đời là bể khổ, là bức bách nên cần phải tu tinh tấn, như thế có gì gọi là đe dọa???

    c- Về giáo lý. Thiện Huệ chỉ trích trong Bát Chánh Đạo, chỉ có chánh Tinh tấn là đúng. Nhưng trong cuốn “Tiểu sử và giáo lý của Đức Huỳnh Phú Sổ” thì đức thầy viết là “ chánh tin-tấn” vì thế Ngài giải thích: -“Tín ngưỡng chơn chánh và lướt tới”. Nếu viết là chánh tinh tấn thì ngài giải thích như thế không ổn. Suốt tập luận văn, Thiện Huệ phê bình hai chữ nầy là đúng. Nếu là "Tin-Tấn” thì Thiện Huệ đả kích sai.

    Trong mục V Nghi Thức, 1- cách thờ phượng, Đức huỳnh y theo tinh thần Phật giáo, không nặng về hình tướng quá nhiều, nên không chủ trương thờ tượng cốt, chỉ biểu tượng màu dà là màu tổng hợp các màu. “Màu của y hoại sắc, biểu trưng cho sự thoát tục, và sự hòa hợp của nhân loại” thì Thiện Huệ bảo là không đúng, vì chỉ cho sự hòa hợp của chư Tăng, còn hai ngôi nữa thế nào; Thiện Huệ chỉ hiểu chư Tăng là sự hòa hợp, vì thế màu dà biểu tượng cho sự hòa hợp thì Thiện Huệ chỉ có khả năng hiểu đến Tăng bảo mà thôi. Chúng ta thông cảm cho trình độ của Thiện Huệ chỉ có đến thế.

    Trong phần phê phán chỉ trích – bài nguyện trước bàn thờ Thông Thiên. Thiện Huệ viết: “Một điều đáng lưu ý nữa là trên bàn thờ Tam bảo, Huỳnh Phú Sổ không cho phép người tín đồ thờ thêm bất cứ vị thần nào ngoài tấm “trần dà”tượng trưng cho Tam bảo. Thế nhưng, khi cầu nguyện, các vị thần ở “năm non Bảy núi” lần lượt xuất hiện tại đây.Vì thế, trong vấn đề thờ phượng và cầu nguyện. chúng ta thấy, lời dạy của Huỳnh Phú Sổ không mang tính đồng nhất với nhau.” Vậy thì các chùa cũng không đồng nhất với việc chỉ thờ Tam Tôn hoặc Tam thế trong khi lạy ngũ bách danh, Tam thiên thì sao??? Có lẽ Thiện Huệ đang cơn mê sản, thấy lọ mặt người mà không thấy mặt lọ chính mình.

    Phần VI. Những lời khuyên của Huỳnh Phú Sổ đối với các tín đồ Hòa Hảo.

    Qua 8 điều khuyến của đức Huỳnh Phú Sổ đối với tín đồ:

    (1) Ta không nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàn điếm, phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường.

    (2) Ta không nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất, chẳng nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng giận.

    (3) Ta không nên ăn xài chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà đánh quên nhân nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu nịnh kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó.

    (4) Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần Thánh mà sai hay nguyền rủa vì thần thánh không can phạm đến ta.

    (5) Ta không nên ăn thịt trâu, chó ,bò, vì không nên sát sanh hại vật mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, vì nếu ta ;làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn đồ cúng kiến mà làm hết bệnh là tà Thần; nếu ta cúng kie61nma4i thì chúng ăn quen sẽ nhiễu hại ta.

    (6) Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cỏi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho người lỡ đường, đói rách, tàn tật.

    (7) Đứng trước mọi việc chi về sự đời hay đạo đức, ta phải suy xét cho minh lý, rồi sẽ phá đoán việc ấy.

    (8) Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về nơi cõi Tây Phu7ngh an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh.


    Thiện Huệ viết: “không giống như các tôn giáo khác, đạo Hòa Hảo không có các điều luật hay giới điều nhằm răn cấm những việc là sai trái của người tín đồ đối với đạo mà chỉ có những lời khuyên mang giá trị đạo đức học thức dụng mà thôi.”

    Như đã nói, nếu Hòa Hảo chỉ là một hệ phái như bao hệ phái của Phật giáo thì cần gì sáng chế thêm những giới cấm mà nhà Phật đã có. Những lời khuyên đủ nói lên tính tôn trọng và nhắc nhở mà không thể hiện tính chuyên quyền độc đoán bắt buộc tín đồ phải theo. Nhà Phật cũng thế, không bắt buộc ai phải chấp hành, giới luật tự mình nguyện giữ mà không hề có sự tra vấn, trừng phạt.Tại sao Thiện Huệ lại kết án: …”Chúng ta nên biết, trên đây chỉ là những lời khuyên chứ không phải là những lời răn cấm, do đó, nó không có giá trị bắt buộc đối với người tín đồ”…

    Vậy theo Thiện Huệ những lởi đe dọa cấm đoán mới có giá trị, còn lời khuyên là vô nghĩa? Trẻ con hoặc kẻ vô ý thức mới dùng sự cấm đoán đe dọa, người có ý thức chỉ cần khuyên nhủ cũng đủ nói lên giá trị giữa người khuyên và người tiếp nhận lời khuyên. Một tín đồ mà xem lời khuyên của giáo chủ không có giá trị thì Thiện Huệ cũng xem giới luật tự nguyện của nhà Phật không có giá trị, thảo nào không thiếu những vị xé rào phạm giới! Trong 250 giới Tỳ kheo cũng như 5 giới tại gia của nhà Phật là điều bắt buộc hay tự nguyện của một giới tử? Phật giáo chưa bắt buộc ai một vấn đề nào, tại sao Thiện Huệ lại bắt buộc Phật giáo Hòa Hảo phải có cấm giới mà không nên khuyên bảo??? Tôn giáo nào, tổ chức nào cũng có kẻ phạm luật, không vì những hiện tượng tiêu cực đó mà kết tội cho chủ trương của một tổ chức, một tôn giáo. Thế mà Thiện Huệ viêt: … “Chẳng hạn,trong điều thứ 5, Huỷnh Phú Sổ dạy: “không nên sát sanh hại vật…” thế mà người tín đồ Hòa Hảo khi sát nhân lại không hề bị kết án…”Vậy có những tín đồ Phật giáo cũng như một vài Tu sĩ phạm giới, trong Phật giáo có ai kết án họ ngoài họ tự sám hối? Đọc những đoạn của Thiện Huệ, có cảm giác Thiện Huệ đang ở cảnh giới nào đó.

    VII Các hình thức tu tập; Thiện Huệ viết: “Theo tôi,”học Phật” là phải tu theo Phật, còn muốn “tu nhân” thì phải học nhân cách làm người. Nếu học Phật mà không hành theo Phật thì chúng ta “học Phật” để làm gì? Chẳng lẽ để tìm những sơ hở của các ông thầy tu Phật giáo mà soi mói, bắt bẻ họ? Sự thật “học Phật” và “tu nhân” là 2 vấn đề khác biệt, chúng ta không thể gán ghép chúng lại thành một. “học Phật” là chúng ta học những gì Đức Phật Thích Ca đã dạy, tức học đạo giải thoát; còn “tu nhân” là làm theo những lời dạy của Khổng tử, tức thiên về những gì thuộc lĩnh vực đạo đức học thế nhân”.

    Có lẽ Thiện Huệ nên học lại giáo lý cơ bản của các trường Phật học cấp quận huyện trước khi nói chuyện với Phật giáo Hòa Hảo. Trình độ học Phật của Thiện Huệ còn thua quá xa một người thanh niên mới 20 tuổi đã đủ khả năng quy tập hàng triệu tín đồ với những đạo lý uyên thâm mà chưa hề qua tường lớp như Thiện Huệ. Trước khi dẫn chứng tính uyên thâm của đức Huỳnh, xin tiếp tục nói với Thiện Huệ về “học Phật” và “tu nhân”. Trong giáo điển nhà Phật có ngũ thừa, một cư sĩ tại gia ai cũng phải biết, thế mà Thiện Huệ cố tình không biết;

    Ngũ thừa gồm có: Tam quy ngũ giới là căn bản của nhân thừa, Thập thiện là căn bản Thiên thừa, Tứ đế là căn bản của Thanh văn thừa, 12 nhân duyên là pháp tu của Duyên giác thừa, và lục độ vạn hạnh là quy trình của Bồ Tát đạo..

    Như vậy tu nhân đâu chỉ có ở Khổng giáo? Theo như Thiện Huệ thì Phật giáo chỉ có tu thành Phật, còn những căn cơ không tương thích thì bị Phật giáo loại bỏ??? Giáo lý đạo Phật nghèo nàn nông cạn đến thế sao Thiện Huệ? Phải chăng Thiện Huệ đã bôi bác giáo lý đạo Phật lẫn giáo lý Phật giáo Hòa Hảo trước những tôn giáo khác? Thiện Huệ bảo học Phật là phải tu theo Phật? đúng là gà què ăn quẩn cối xay,Thiện Huệ chỉ biết giáo lý Phật giáo trong những trang sách sơ đẳng. Có lẽ Thiện Huệ khi vào Học Viện Vạn Hạnh chưa qua các lớp cơ bản Phật học. Ai bảo học Phật là phải tu theo Phật? Các học giả, các nhà nghiên cứu tôn giáo kể cả các tôn giáo bạn khi học hỏi giáo lý nhà Phật bắt buộc họ phải tu theo Phật? Bằng không thì chụp mũ họ là học để biết mà tìm những sơ hở của các ông thầy tu Phật giáo mà soi mói bắt bẻ họ? Vàng thật đâu sợ lửa, mình tu đúng đắn, đừng lừa dối tín đồ để hưởng thụ sa đọa thì sợ ai soi mói bắt bẻ phải không Thiện Huệ? Khi kết luận “tu nhân”, Thiện Huệ phán một câu nghe rợn tóc gáy: … “Còn ”tu nhân” cũng chỉ là tư tưởng của sự tranh giành quyền trị quốc được che đậy bởi hình thức “học Phật”. Vậy “nhân thừa” của việc “học Phật” cũng là hình thức “tu nhân” để tranh giành quyền trị quốc ? nói đến đây, có lẽ Thiện Huệ sẽ chứng minh cho lời nói của mình là đúng khi dẫn chứng các triều đại Đinh Lê Lý Trần, nhất là Lý Công Uẩn được sư Vạn Hạnh bố trí vào cương vị trị quốc an dân?

    Phải chăng Thiện Huệ nhục mạ tu nhân của Phật giáo nói chung và kết tội hàng cư sĩ của Phật giáo Hòa Hảo nói riêng?

    Chương II

    Đạo Hòa Hảo có phải là một tôn giáo không?


    Thiện Huệ đồng ý về cách định nghĩa và giá trị về người xuất gia lẫn tại gia của đức Huỳnh, thế nhưng, Thiện Huệ cố tình không hiểu khi kết án đức Huỳnh qua đoạn “Sấm giảng khuyên người đời tu niệm”, mà Thiện Huệ bảo rằng: “Ông cho rằng, các nhà sư chỉ có được lớp vỏ hình thức trang nghiêm bên ngoài nhưng thực chất toàn là lũ “ác Tăng”, chẳng tốt đẹp chi cả: “Thầy chùa như thể cây sơn,/ Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn./ Buồn thay cho lũ ác Tăng./ Làm điều dối thế cho hư đạo mầu./ Di Đà Phật tổ thêm rầu,Giận trong Tăng chúng sao lừa dối dân.”

    Có lẽ Thiện Huệ tự kỷ ám thị về những hành vi bất tịnh của chính mình nên khi đọc đoạn trên như đĩa gặp phải vôi, la toán lên: “Nói một câu ngắn gọn, Huỳnh Phú Sổ đã coi toàn thể các nhà sư là những người xấu ác, những người chỉ tốt được lớp vỏ bên ngoài mà bên trong đã bị thối nát, bị “mối ăn”.

    Xin thưa với Thiện Huệ, nên hiểu là “thầy Tu” và “thầy chùa” là hai thực chất khác nhau. Thầy tu là bậc chuyên tu chân chánh, còn thầy chùa vào thời điểm đó là những thầy tụng ma chay đám tiệc, có vợ con, ăn thịt uống rượu để giữ chùa khi chưa có kế thế xuất gia…Đức Huỳnh có gọi là “thầy tu” đâu nào? Vả lại chắc gì cộng đồng tu sĩ hiện nay đều là thánh thiện huống nữa vào thời loạn ly sao tránh khỏi ô tạp? Nếu mình chân chánh thì sợ gì bị biếm nhẽ. Hãy tự xét mình hơn là kết tội kẻ khác. Thiện Huệ cũng đã đọc những đoạn đức Huỳnh ca ngợi các bậc xuất gia cơ mà. Đức Huỳnh tự thân đã tôn kính Tam Bảo, khuyên tín đồ kính lễ Tam bảo trong đó có các bậc chân tu: “Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội, nên chưa thể làm như các nhà Sư, Ni Cô đặng.Tuy vậy,họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi bác ái đại đồng của nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra. Thế nên, ở tại nhà họ phượng thờ Đức Phật phát nguyện quy y, giữ gìn ít nhiều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn lòng, ủng hộ các Sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải thoát.”

    Như vậy đức Huỳnh ám chỉ những kẻ mang hình thức tu sĩ mà không giữ đúng Tăng phong đạo cách làm hoen ố Tam bảo, “lũ ác Tăng” ám chỉ những thành phần dối đời gạt đạo mà thôi. Và thử đặt vấn đề, tại sao họ bảo mình là ác Tăng? Không lửa làm sao có khói. Cộng đồng chân tu thì ai dám mạt sát, kể cả ngoại đạo? Thiện Huệ hãy bình tĩnh xem lại chính mình.

    Trong đoạn 5 của luận văn phê phán Tu theo tinh thần Bát Nhã, Thiện Huệ viết: “Nếu Huỳnh Phú Sổ không có được chút hiều biết gì về ý nghĩa của từ “vô vi” thì làm sao ông ta có thể với tới được những thâm ý ẩn tàng trong tư tưởng Bát Nhã. Có lẽ ông ta đã học lóm đâu đó được một vài chữ “có-không” trong tư tưởng Bát Nhã rồi ngốc nghếch nói theo, còn tự cho mình là một nhà thông thái, có hiểu biết sâu rộng về tư tưởng nầy: “Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu,/ Hãy tìm kiếm cái không mới có”

    Vâng, thưa ông Thiện Huệ, Đức Huỳnh không được cái may mắn ăn học như ông nên không hiều hết ý nghĩa chữ “vô vi” và “có –không”; ông cho rằng Đức Huỳnh là nhà thông thái của một đám người dốt nát, nhưng Ngài đã là giáo chủ của hàng triệu người dốt nát đó, còn ông, tự nhận lả thông thái, có ăn học qua trường lớp, ông đã nói được mấy người nghe hay chỉ là kẻ viết vu vơ để bao nhiêu giới trí thức phỉ nhổ? Không những ông mạt sát Đức Huỳnh là dốt nát mà mạt sát hàng triệu tín đồ Hòa Hảo, người dân Nam bộ đều dốt nát, vậy ông có khôn ngoan của người có ăn học chăng? Thiện Huệ kết luận về nhà thông thái của đám dốt nát đó: “Xét cho cùng, Huỳnh Phú Sổ vẫn là một nhà thông thái của một đám người dốt nát đang tôn xưng ông là giáo chủ, một giáo chủ kiêu căng, khoác lác, hay lòe đời bằng một mớ kiến thức rơm rac do học lóm mà được, một giáo chủ luôn tạo những mâu thuẩn trong lời dạy của mình, vậy mà có ai hay biết gì đâu, vẫn cho đó là những khuôn vàng thước ngọc cần phải noi theo.”

    Hình như trên thế giới, chưa ai dám công khai mạt sát phỉ nhổ giáo chủ của bất cứ tôn giáo nào bằng những lời lẽ hạ cấp, kiến thức nông cạn như Thiện Huệ. Thiện Huệ xứng đáng lãnh một quả báo theo luật nhân-quả.

    Phần II của chương II trong luận văn Thiện Huệ: Đạo Hòa Hảo không phải là một Tông Phái Phật giáo. Thiện Huệ khẳng định như đinh đóng cột khi dẫn chứng mẫu đối thoại sau đây, trong bài viết "Đức giáo chủ và công đức truyền giáo” do Hoài Dân thuật lại:

    “Một hôm có hai người khách đến hỏi Huỳnh Phú Sổ rằng “Kính xin thầy cho chúng tôi biết Thầy tu theo đạo nào?”

    Huỳnh Phú Sổ đáp: “ Tôi tu theo đạo Phật”

    Hai người khách hỏi tiếp:” Thầy thọ giáo với ai và học những kinh nào trong Tam Tạng kinh điển?”

    Huỳnh Phú Sổ đáp: “Tôi không thọ giáo với ai cũng không học kinh luật nào hết”


    Thiện Huệ luận bàn: "Theo truyền thống Phật giáo, Nam truyền cũng như Bắc truyền, mọi người Phật tử dù xuất gia hay cư sĩ tại gia, tất cả đều có ít nhất một người thầy dẫn dắt tiến tu trên con đường đạo Pháp….”

    Thiện Huệ nói đúng với cái đúng của kẻ phàm phu, nhưng trong Phật giáo cũng từng đề cập đến “vô sư trí”, Thiện Huệ quên rồi sao? Những Thần đồng của thế tục có học ai đâu mà vẫn thông tuệ? Hình như Thiện Huệ học nhiều quá hóa lú lẫn! Trong cuộc sống luôn có những cái vượt ngoài khuôn thước bình thường, trường hợp nầy, nếu ở lãnh vực trí tuệ gọi là “vô sư trí”, ở lãnh vực chuyên môn gọi là Thần đồng. Thiện Huệ tiếp: “Học giáo lý, chúng ta đã biết, theo sự quyền ký của Phật Thích Ca thì sau thời kỳ giáo pháp của Ngài duy chỉ có một vị Phật ra đời, đó là Phật Di Lạc. Hơn nữa, thời kỳ nầy vẫn chưa phải là thời kỳ mà giáo pháp của đức Phật Thích Ca đã tận diệt, và cũng chẳng phải lúc Phật Di Lặc ra đời thì không thể nào lại có thêm một ông Phật khác xuất hiện. Cho nên ta biết chắc, Huỳnh Phú Sổ không phải là một vị Phật, và cũng chẳng phải là một Phật tử chân chính quyết tâm đi trên con đường giải thoát giác ngộ.

    Trong đoạn vấn đáp, Ngài tự nhận là tu theo Phật chứ Ngài có bảo mình là Phật đâu mà Thiện Huệ dông dài đính chính giữa Phật Thích Ca và Phật Di Lặc là không có Phật nào xuất hiện nữa? Bảo đức Huỳnh không phải là một Phật tử chân chính? Xin Thiện Huệ định nghĩa rõ thế nào là Phật tử chân chính? Tối ngày đi chùa lễ bái, tụng niệm là chân chính? Dạy dỗ quần sanh, hướng dẫn nếp sống đạo đức, tu niệm trai lạt, tưởng kính Tam Bảo, tri ân tiền bối, báo đáp “tứ ân”, chữa bệnh giúp đời, xả thân bảo vệ tổ quốc…là không chân chính??? Nếu đức Huỳnh không phải Phật tử chân chính thì chắc hẳn Thiện Huệ phải chân chính? Một người tu chuyên vạch lá tìm sâu, công kích mạt sát giáo chủ khác là chân chính? Mạt sát toàn bộ Phật giáo Hòa Hảo dốt nát là chân chính???

    Ngay cả “trị bệnh độ đời “ của đức Huỳnh cũng bị Thiện Huệ phủ nhận giá trị tâm linh: “Do đó, xét ở góc độ của người thầy thuốc thì Huỳnh Phú Sổ cũng không phải là một người lương y đúng nghĩa theo tinh thần Phật giáo” mặc dù đó cũng chỉ là phương tiện để dẫn dắt họ đến với đạo (thuyết pháp độ đời): “Ngài nói về sắc diện, tính tình và tương lai của người đối thoại để gần cuối câu chuyện Ngài khuyên làm lành lánh dữ và nên tin Phật, xem kinh” Thiện Huệ bảo: “Thật ra, đây không phải là nghệ thuật thuyết pháp đúng đắn của một nhà truyền giáo, nói đúng hơn Huỳnh Phú Sổ đã lợi dụng phương pháp toán số đánh thẳng vào tâm lý của những người nhẹ dạ yếu lòng bằng những lời nói phù phiếm để tìm cách lôi kéo họ vào tôn giáo của ông”. Thiện Huệ có lẽ quên lịch sử truyền giáo của chư Tổ trong những hoàn cảnh khó khăn cũng phải linh động uyển chuyển, Tất cả những phương tiện không hại ai mà dẫn dắt họ đến với đạo đều là chính đáng. Trong số tu sĩ Phật giáo hiện nay, không thiếu nhũng vị xem quẻ bói toán giúp cho thân chủ an tâm hướng vào đạo. Cúng sao giải hạn cũng không phải của Phật giáo, tại sao vẫn tồn tại mà Thiện Huệ không lên án??? Vậy theo Thiện Huệ, phương tiện nào là chánh đáng để truyền pháp? Hình như Thiện Huê được sinh ra trong ống nghiệm nên hiểu mọi vấn đề thế gian theo một mô hình cố định, trong khi nhà Phật bảo “Thế gian pháp tức Phật Pháp”, và “Phật Pháp là bất định Pháp”, tức là tùy đối cơ và khế lý khế thời mà dụng pháp.

    IV Những thực tính phi tôn giáo luôn tồn tại và được phát huy mạnh mẽ trong đạo Hòa Hảo. (đây là để mục trong luận văn của Thiện Huệ):

    “Chúng ta đã biết, tôn giáo là chỗ dựa tinh thần cho tất cả mọi người, do đó nó phải thể hiện được thực tính của nó. Nghĩa là nó phải có được tính đạo đức, tính tích cực,, tính thiêng liêng, tính vị nhân sinh…điều quan trọng hơn hết là trong tôn giáo không thể có tính chiến đấu, tính chính trị,…và mục tiêu hướng tới của tôn giáo ắt phải vì hòa bình và hạnh phúc của muôn dân.

    Xét lại thực tính của đạo Hòa Hảo, ta thấy,đạo giáo nầy tự cho mình là một tôn giáo, có khi còn xưng là một tông phái của Phật giáo, thế nhưng, những hoạt động của nó lại không mang tính tôn giáo, mà thiên về tính chiến đấu, tính chính trị nhiều hơn; suy cho cùng, tất cả những hoạt động nầy đều là chủ trương là đường hướng, là tôn chỉ do Huỳnh Phú Sổ đề ra ngay từ lúc đạo giáo nầy mới được thành lập”.


    Thiện Huệ nói để mà nói với những học sinh, những tín đồ ngây thơ; những ai có trí thức hiểu biết thì những lời nầy nghịch nhĩ khó nghe. Vậy Thiện Huệ hiểu thế nào câu: “đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”? Giữa lúc nước nhà nghiêng ngữa vì ngoại xâm mà ngồi đó chỉ để giảng đạo, nhắm mắt mơ vể cực lạc??? Nếu trong Phật giáo không có tính chiến đấu làm sao bảo vệ dân tộc hòa bình suốt mấy thế kỷ khi đẩy được ngoại xâm ra khỏi biên cương? Nếu không có tính chính trị thì các đời vua Đinh Lê Lý Trần xây dựng đất nước thế nào??? Và không có yếu tố chiến đấu lẫn chính trị thì lấy gì đạt mục tiêu vì hòa bình và hạnh phúc của muôn dân.?

    “Tất cả những hoạt động nầy đều là chủ trương là đường hướng, là tôn chỉ do Huỳnh Phú Sổ đề ra ngay từ lúc đạo giáo nầy mới được thành lập”… Không thấy Thiện Huệ dẫn chứng chương nào, sách nào về chủ trương nầy từ lúc đầu, nhưng Thiện Huệ đã dẫn chứng trong sách “Sấm giảng Thi văn Giáo Lý toàn bộ” thì mãi 6 năm sau khai đạo, năm 1944 mới ra đời Việt Nam Nghĩa Sĩ đảng chứ không phải chủ trương nầy có từ lúc đạo giáo nầy mới thành lập.


    Chính vì những yếu tố trên với tinh thần nhập thế đầy trách nhiệm để tương thích với tình thế đương thời mà Phật Giáo Hoà Hảo cần có những lực lượng đối kháng bảo vể chủ quyền dân tộc. Một số nhà sư không đủ năng lực tập hợp quần chúng thì tự mình tham gia các tổ chức lúc bấy giờ. Như thế có gì là sai với tinh thần và trách nhiệm của Đạo Phật???

    Thiện Huệ viết: “Sự thành lập của đảng phái chính trị”: khi số tín đồ Hòa Hảo ngày một đông, Huỳnh Phú Sổ bắt đầu nghĩ đến ý đồ xưng vương, xứng bá bằng cách thành lập các đảng phái Hòa Hảo, tham gia vào các hoạt động chính trị".

    Ta nghe đức Huỳnh tuyên bố, trang 515 “Sấm giảng thi văn giáo lý –toàn bộ” với báo “Quần chúng” vào năm 1946 : … “Tôi, một đệ tử trung thành của đạo Phật, một chiến sĩ trì chí của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam, sẵn sàng cùng đoàn thể mình cương quyết đứng dậy đáp lại tiếng gọi của non sống, cương quyết tranh đấu bảo vệ quyền lợi chung cho nòi giống”…

    Thế mà Thiện Huệ quy kết: “Các tổ chức nầy, ngay buổi đầu thành lập, chỉ có ý nghĩa duy nhất là đánh đuổi kẻ thù xâm lược, tuy nhiên, bên trong, Huỳnh Phú Sổ vẫn âm thầm nuôi mộng đế vương. Do đó, càng về sau, khi lực lượng quân đội Hòa Hảo càng đủ mạnh thì Huỳnh Phú Sổ cũng không còn ngần ngại tiết lộ mộng vàng bằng việc lập nên kế hoạch kiến quốc nhằm xây dựng một nền quốc gia độc lập cho tương lai”.

    Ta nghe đức Huỳnh nói với báo “quần chúng” lúc bấy giờ:

    “Hôm nay, nhận rõ cuộc đấu tranh cho Tổ Quốc còn dài và cần nhiều nỗ lực, hưởng ứng với tiếng gọi đại đoàn kết của chính phủ Trung Ương, tôi quyết định tham gia hành chánh với những mục đích nầy:

    1.- Để tỏ cho quốc dân và chính phủ thấy rằng chúng tôi chủ trương thống nhất lãnh thổ và độc lập quốc gia.

    2.- Để biểu dương tinh thần đoàn kết của dân tộc hầu mau đem thắng lợi cuối cùng.

    3.- Để tỏ cho các đảng phái thấy rằng chúng tôi không khi nào có những tham vọng cao sang vương bá hay vì hiềm riêng mà hờ hững với phận sự cứu nước.”…

    Chính Thiện Huệ quy kết Hòa Hảo là phi tôn giáo nên Thiện Huệ viết trong phần 2.6 Binh bị rằng: “Cho nên Hòa Hảo lúc nầy đã không còn là một tôn giáo nữa, nói đúng hơn, nó là một đảng phái mang hình thức tôn giáo để hoạt động chính trị. Chính hình thức hoạt động nầy đã tạo nên bản tính hung hăng và tàn bạo của những tín đồ Hòa Hảo. Bản tính nầy, càng về sau, nó càng được phát huy mạnh mẽ, và các tín đồ Hòa Hảo càng trở nên cuồng tín hơn nhất là sau ngày Huỳnh Phú Sổ biệt tích…Cho nên đạo Hòa Hảo dù ở thời điểm nào nó vẫn là một quân đội tôn giáo, tức không phải là một tôn giáo thật sự.”

    Bản chất sân si, tự ái, trong tâm ai cũng có hạt giống tiềm ẩn, do công phu tu tập nhiều ít mà phát khởi ít nhiều. Một Hòa Thượng bị gọi nhầm là Thượng Tọa, thế là sân si lộ diện. Một thầy tu bị dân gọi là chú hay anh, trong lòng cảm thấy phiền não. Không thiếu những chú Tiểu bị thầy đánh lúc nổi sân mà phải bỏ chùa ra đi…thế thì, trong một tổ chức mang tính thế tục, không tránh khỏi những phần tử hiếu chiến. Ta nghe Đức Huỳnh trả lời cuộc phỏng vấn của ông Hồn Quyên: trang 517 Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý toàn bộ…

    “Vấn: Ông có thể cho chúng tôi biết về tổ chức quân sự và hành chánh trong đoàn thể của ông chăng?

    Đáp: …Về hành chánh chúng tôi không có tổ chức nào riêng biệt. Chỉ có những tổ chức để ủng hộ cuộc kháng chiến trong các làng mạc. Hiện thời chúng tôi đã ra chỉ dụ cho các tổ chức ấy phải xem xét chương trình tổ chức chung của chính phủ để sáp nhập vào các cơ quan chánh thức của chánh phủ.

    Vấn: Chúng tôi nghe nói hình như ở Hậu Giang còn vài cuộc rắc rối do tín đồ ông gây ra. Có phải vậy không?

    Đáp: Từ trước tới nay, tôi đã nghe rất nhiều lời phê bình của một số đồng bào về những hành động vô ý thức của một nhóm tín đồ tôi. Hôm nay, nhân dịp gặp ông, tôi xin thanh minh và đính chánh về những lời đồn đãi đó. Tôi quả quyết với ông rằng: Tất cả tín đồ có học thức và những người hiểu biết được rõ ràng một vài phần trong giáo lý chơn chánh của Đạo Phật thì trong thời đã qua họ đã thiệt hành được lời dạy của Đức Phật là lấy lòng nhơn hậu mà đối đãi với sự thù oán, mặc dù trong đó họ bị đau khổ nhiều.

    Còn riêng về những cuộc xô xát vừa qua là do sự phẩn uất của một nhóm võ sĩ mà tôi đã kết nạp vào hàng ngũ Bảo An Đội…

    Hiện nay, nếu quả thật như lời ông nói, còn một vài cuộc rắc rối là do những bọn bất lương, mà trong tất cả thời loạn nào cũng có”.

    Thiện Huệ cũng phê phán về tinh thần hội “Long Hoa, đời Thượng Nguơn trong giáo lý Hòa Hảo cho là viễn vông, lừa gạt quần chúng ít học và kết luận: … “Theo chúng tôi, sở dĩ Huỳnh Phú Sổ mượn hình thức tôn giáo để hoạt động chính trị là có hai nguyên do: thứ nhất, vì tôn giáo là nơi tín ngưỡng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, và cũng là nơi chính quyền thực dân không dám xâm phạm, do đó, hình thức tôn giáo đối với ông ta là nơi hoạt động an toàn nhất; thứ hai, chính vì tôn giáo là nơi tín ngưỡng của mọi người dân nên ông sẽ dễ dàng huy động được hiều người vào những hoạt động chính trị của ông, nhất là với tầng lớp nông dân ít học. Vì vậy, đạo giáo nầy, cũng được gọi là đạo giáo của những người ít học.

    Hội Long Hoa là tinh thần Phật giáo, Thượng Nguơn xuất phát từ Trung Hoa. Dân chúng Việt Nam ảnh hưởng sâu đậm Nho-Thích- lão, vì thế, đức Huỳnh cũng phải tùy thuận căn cơ mà dùng phương tiện để dẫn dắt tín đồ. Ngay cả Phật giáo Việt Nam đã trên 2000 năm mà kinh điển, chú nguyện ngày nay vẫn chưa thóat hẳn ảnh hưởng Trung Hoa thì đừng trách các đây gần một thế kỷ.

    Kết: Không thể đi sâu từng chi tiết mà Thiện Huệ đã viết, vừa mất thời gian, vừa không cần thiết đối với những lý sự cùn của Thiện Huệ. Vì Thiện Huệ cứ bảo Hòa Hảo không là một Tôn giáo mà thực chất đức Huỳnh chưa hề tuyên bố như thế, Ngài luôn tự nhận là một tín đồ trung thành của Đạo Phật. Bất cứ ai cũng có quyền chọn cho mình một tín ngưỡng song song với những hoạt động xã hội; không thể bắt buộc khi có tín ngưỡng là phải thuần túy tín ngưỡng, không có quyền tham gia hoạt động bất cứ một tổ chức xã hội nào. Vào thời đất nước nhiễu nhương ngoại thuộc, tinh thần đức Huỳnh như thế, vừa khuyến nông, chữa bệnh giúp dân, vừa chấn chỉnh tín ngưỡng đạo đức bị suy thoái, và có tinh thần yêu nước, biết xả thân… của một thanh niên còn trẻ, chấp nhận đưa lực lượng của mình tham gia hòa nhập vào chính phủ Việt Minh, vì quyền lợi dân tộc; Những biến cố xẩy ra ngoài ý muốn là do những thành phần bất hảo, cuồng nhiệt, nông nổi tạo nên, mà bất cứ tổ chức nào cũng có; mấy chục triệu dân thời bấy giờ, ai đã làm được như đức Huỳnh?

    Mình chỉ biết phê phán chỉ trích mà chưa làm được gì cho Đạo huống nữa cho đất nước mà còn khuấy đục lòng hận thù trong khi đất nước hòa bình, tất cả các tôn giáo được nhà nước kêu gọi đoàn kết. Hòa Hảo cho dù là một hệ phái của Phật giáo vẫn được nhà nước công nhận. Tuy vẫn sinh hoạt song song với những tôn giáo có mặt hiện nay, nhưng đặc biệt Hòa Hảo là một tín ngưỡng nội sinh. Phát xuất từ tinh thần yêu Đạo, yêu nước từ những nông dân Nam Bộ. Nếu không khích lệ những ưu điểm trong quá khứ, và hiện tại cộng đồng Hòa Hảo đóng góp rất nhiều cho xã hội vế mặt từ thiện, thi hãy tôn trọng sự hiện hữu của một cộng đồng dân tộc; Đừng đòi hỏi họ phải có mầu sắc thuần túy như của mình, nếu vậy thì Hòa Hào không còn là Hòa Hảo mà đôi khi còn tệ hơn Thiện Huệ hiện nay.

    (Còn nữa...)

    Minh Mẫn (24/12/2012)

    * Xin bạn đọc lưu ý: Chữ xanh là nguyên văn trong luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ. Chữ đen là phê bình của tác giả Minh Mẫn.

  4. #4
    Status : Dòng Đời Đang Ngoại tuyến
    Ngày tham gia : Feb 2012
    Bài viết : 146

    Vài nhận định của các triết gia, nhà nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo



    Trong bản “luận văn tốt nghiệp” của Thiện Huệ, do Giáo sư Minh Chi hướng dẫn và chấm. Giáo sư phê: “Luận văn đạt yêu cầu về công phu nghiên cứu và sưu tầm tài liệu. Nên tránh phê phán các tôn giao khác với lời lẻ nặng nề”.

    Giáo sư đã biết lời lẻ nặng nề thì không nên cho “xuất xưởng” mà cần đưa qua “Hội đồng Điều Hành” điều nghiên. Đây là một sơ suất của Giáo sư. Bởi vì , trong một bài viết về Hòa Hảo, thời gian trước khá lâu, chính Giáo sư công tâm và vô tư nêu lên nhận xét : “5 lý do phát triển ngoạn mục của Phật giáo Hòa Hảo”:

    1. Minh Chi, nhà nghiên cứu Phật Giáo

    NĂM LÝ DO PHÁT TRIỂN NGOẠN MỤC CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO (trích trong Tạp chí Xưa & Nay, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, số 214 tháng 06 năm 2004)

    Từ năm 1939 đến 1944 tín đồ Hòa Hảo đã phát triển lên đến 5 triệu người. Con số 5 triệu tín đồ xuất xứ ở đâu, có đáng tin cậy không ?

    Chúng ta đặt nghi vấn là phải. Bởi lẽ ngay các con số thống kê tín đồ các tôn giáo lớn trên thế giới, mặc dù in thành sách trong các tự điển bách khoa tôn giáo, như cuốn “Word Chrishan Encyclopedia”(Tự điển bách khoa Kitô giáo thế giới) do Oxford xuất bản,hay cuốn “Dictionaire des Religions “của Paul Poupart xuất bản, cũng đều bị các học giả đặt nghi vấn. Lý do dễ hiểu, niềm tin tôn giáo là chuyện sâu kín trong lòng mỗi người, khó mà thống kê chính xác, chỉ có thể thống kê đại khái với sai số hàng vạn, thậm chí hàng triệu.

    Còn con số 5 triệu tín đồ Hòa Hảo, tôi trích trong cuốn “Print and power “(In ấn và quyền lực) của tác giả Shawn Frederick Mc Hale, đại học Hawai xuất bản, trang 4. Hơn nữa trong con số 5 triệu, phải kể cả tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương, đã từng đi theo Phật Thầy Tây An, Đức Phật Trùm, ông Sư Vãi bán khoai v.v…

    Nhưng phải đến khi Huỳnh Phú Sổ bắt đầu truyền đạo, con số tín đồ mới tăng vọt.

    Vào năm 1939, Huỳnh Phú Sổ lúc bấy giờ còn là một thanh niên 19 tuổi, tự tuyên bố mình là giáo chủ ; là phái viên của đức Phật ở cõi đời này, kêu gọi mọi người sống thiện và tin theo tôn giáo của ông rao truyền.

    Trong bài này, tôi chỉ nói lên điều tâm đắc của tôi về “Sự thành công ngoạn mục của một tôn giáo - Đạo Phật Giáo Hòa Hảo “do Huỳnh Phú Sổ đề xướng năm 1939, khi ông còn là thanh niên 19 tuổi, chỉ không đầy 5 năm, tức năm 1944 đã đạt con số tín đồ 5 triệu. Tài liệu nước ngoài và trong nước đều nhất trí xung quanh con số 5 triệu.

    Câu hỏi “Nguyên do ở đâu”. Câu hỏi đã nhận được nhiều câu trả lời mà tôi xin phép khái quát lại như sau:

    1- Khéo khai thác truyền thống kể chuyện miệng bằng thơ ở Nam bộ:

    Một lý do là đạo Hoà Hảo biết khai thác – có thể là một cách tự nhiên, không cố ý - truyền thống kể chuyện miệng của đồng bằng miền Tây Nam bộ. Phải chăng, với một quần chúng đa số là nông dân ít học, lối truyền giáo bằng thi ca, bằng vè là thích hợp nhất, bởi vì dễ nghe, dễ nhớ.

    Tôi trích dẫn dưới đây một vài vần thơ do ông Huỳnh Phú Sổ sáng tác và được lưu hành rộng rãi :

    “Non sông rực rỡ chói ngời

    Mảnh gương Phật đạo soi đời cổ kim”

    “Theo đòi gương phẩm Thích Ca

    Dốc đem tâm chí tìm ra đạo mầu"

    “Ta thừa vưng sắc lệnh Thế Tôn

    Khắp hạ giới truyền khai đạo pháp“

    Người ta nói Huỳnh Phú Sổ ít học (chỉ đến bậc tiểu học). Nhưng các bài sấm vè của ông dùng rất nhiều từ Hán Việt, từ Phật học, chứng tỏ một trình độ Phật học cao, một sự vận dụng kho từ Hán Việt phong phú. Đó lại là một ẩn số nữa của Huỳnh Phú Sổ.

    2- Đạo Hoà Hảo tuy về mặt giáo lý, chủ yếu dựa vào đạo Phật, nhưng về mặt tổ chức lại chịu ảnh hưởng của phương Tây:

    Thí dụ Hòa Hảo thành lập đảng chính trị, sử dụng phương tiện in ấn để truyền đạo. Sử liệu đạo Hòa Hảo cho biết, từ năm 1939 đến 1965, nhiều bài giảng của Huỳnh Phú Sổ tái bản hơn 200 lần, với tổng số bản in là 800.000 bản. Phải chăng đây là một lý do nữa giải thích sự thành công nhanh chóng và ngoạn mục của đạo?

    3-Mùi vị “tận thế “(Apocaliptic) của giáo lý được rao giảng:

    Huỳnh Phú Sổ tuyên bố nhân loại đang ở trong thời kỳ : “Hạ ngươn “là kỷ nguyên của tội ác hoành hành, chiến tranh liên miên, thiên tai dồn dập, bệnh dịch cùng khắp. Huỳnh Phú Sổ viết “Thiên tào đã xét định, khắp chúng sanh trong thế giới, trong cái buổi Hạ ngươn này, say mê vật dục, chìm đắm trong biển lợi danh gây nên nghiệp quả, luật trời đã trị tội v.v…”(Xem “Tôn chỉ hành đạo Phật Giáo Hòa Hảo của Đức Huỳnh Giáo Chủ “, trang 7, NXB Tôn giáo, 2002).

    Đúng như vậy, thời kỳ Huỳnh Phú Sổ bắt đầu truyền giáo là thời kỳ bắt đầu cuộc đại chiến thế giới thứ hai, với những tổn thất nhân mạng và tài sản không kể xiết. Vì là một cuộc đại chiến thế giới , cho nên Việt Nam lúc bấy giờ là thuộc địa và xứ bảo hộ của Pháp, cũng bị họa lây và trở thành chiến trường xung đột giữa Pháp và Nhật, trở thành hậu phương góp công cho cuộc chiến tranh Đại Đông Á do đế quốc Nhật khởi xướng. Nạn đói khủng khiếp làm hơn hai triệu người Việt Nam chết năm 1945 là con đẻ của tình hình này .Trong một thời kỳ nhiễu nhương, tội ác, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, đói kém, dân chúng khốn khổ lầm than như vậy, thì lời kêu gọi của giáo chủ Hòa Hảo, mang hình thức sấm truyền, tất nhiên là có một sức hấp dẫn đặc biệt. Nhưng theo chúng tôi nhận định 3 lý do trên là lý do phụ. Hai lý do 4 và 5 là chủ yếu.

    4- Phật Giáo Hòa Hảo coi nhẹ hình thức, bồi dưỡng đức tự tin ở bản thân, đơn giản hóa nghi lễ, coi trọng lối hành đạo gần gũi dân chúng, đặc biệt là dân chúng nghèo

    Huỳnh Phú Sổ đích thân chữa bệnh - kể cả những bệnh hiểm nghèo mà theo sử liệu để lại, ông đã thành công trong nhiều trường hợp. Ngày nay, với nền y học hiện đại, với những thành tựu mới, vang dội về khoa chữa bệnh bằng tâm lý (Psycho therapy), phải thừa nhận ảnh hưởng lớn của trạng thái tâm lý người bệnh đối với việc chữa bệnh. Trong cuốn “Con người, một ẩn số “(L’Homme, cet inconnu “), tác giả bác sĩ Carrel (giải thưởng Noben) đã nêu một số trường hợp do ông đích thân quan sát người mắc bệnh hiểm nghèo đã được chữa khỏi bệnh, chỉ dựa vào niềm tin và cầu nguyện mà thôi. Đấy là những chuyện cá biệt, nhưng có thực, xảy ra không phải riêng cho Thiên Chúa giáo mà cho nhiều tôn giáo khác.

    Nhưng ở đây, chúng ta đang nói về Phật Giáo Hòa Hảo. Thành công ngoạn mục của đạo Hòa Hảo, trong một thời gian ngắn, từ 1939 đến 1944 đã đưa con số tín đồ lên 5 triệu, không phải chỉ ở nội dung giáo lý dễ hiểu, hình thức giáo lý dễ thực hành, mà còn ở tác phong của người truyền giáo nói và làm đi đôi, lý thuyết và thực hành nhất trí. Một tác phong mà trước Huỳnh Phú Sổ, các lãnh tụ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có liên quan mật thiết với đạo Hòa Hảo đã làm rồi như Phật Thầy Tây An, đức Phật Trùm, Sư Vãi bán khoai.

    Nói một cách khác, các lãnh tụ truyền giáo Hòa Hảo không phải chỉ rao giảng giáo lý của họ, mà toàn bộ cuộc sống của họ là hiện thân của giáo lý đó, không những họ giảng hòa hiếu mà thực sự họ sống hòa hiếu, và khi họ giảng và sống hòa hiếu, họ tin là quần chúng tín đồ đi theo họ, đều muốn và sống hòa hiếu như họ. Hãy hỏi : Ai dù là tín đồ hay không phải tín đồ Hòa Hảo, ai lại không muốn sống hiếu thuận với ông bà tổ tiên, ai lại không muốn sống hòa hài đoàn kết với hàng xóm, láng giềng, bè bạn ? Phải chăng, một bí mật của sự thành công ngoạn mục của đạo Hòa Hảo là các nhà truyền giáo của họ đã rao truyền một giáo lý mà cả đời họ là hiện thân sống động : Cái gì họ nói là họ sống, họ làm ; cái gì họ làm họ sống thì họ mới nói, theo đúng phương châm “Ngôn hành hiệp nhất “của triết gia Vương Dương Minh đời Tống, tuy rằng họ có thể không biết Vương Dương Minh là ai.

    Họ có thể không biết Vương Dương Minh là ai, nhưng giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, tự tuyên bố mình là đệ tử của Phật Thích Ca rất có thể đã ghi lòng tạc dạ lời Phật Thích Ca giải thích Như Lai, tức Phật là gì ?

    “Này các Tỳ kheo, Như Lai nói gì làm vậy, làm gì nói vậy. Ví rằng nói gì làm vậy, làm gì nói vậy, nên được gọi là Như Lai “(Tiểu Bộ kinh, tập 1, bản dịch của HT. Thích Minh Châu, trang 509).

    Trong sách Phật giáo, có từ thân giáo, nghĩa là lấy tự thân mình làm gương sáng giáo dục cho người khác. Không những các lãnh tụ như Phật Thầy Tây An và đức Huỳnh Phú Sổ thực hành như vậy, mà mỗi tín đồ Hòa Hảo đều làm như vậy. Họ đều thực hành thuyết bốn ân, sống hòa hiếu với cha mẹ, tổ tiên, hàng xóm láng giềng v. v … Họ truyền đạo không chỉ bằng lời nói, mà bằng cuộc sống cả đời họ, cuộc sống hằng ngày của họ. Phải chăng nhờ đó mà đạo Hòa Hảo lan truyền rất nhanh từ năm 1939.

    5- Kết luận:

    Sự thành công ngoạn mục của Phật Giáo Hòa Hảo, chủ yếu còn ở chỗ, từ tiền thân của nó là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cho nên năm 1939, khi với Huỳnh Phú Sổ, nó mang tên chính thức Phật Giáo Hòa Hảo - tức là Phật giáo ở làng Hòa Hảo, luôn luôn các thế hệ giáo chủ đều khẳng định “cốt lõi giáo lý của đạo Hòa Hảo chính là giáo lý của Phật Thích Ca tuy cội nguồn ở Ân Độ, nhưng đã được truyền đến nước ta vào những năm đầu Công nguyên, tức là một tôn giáo có truyền thống hơn 19 thế kỷ của một đạo dân tộc, hòa vận mệnh của mình vào vận mệnh của dân tộc, đến mức thi sĩ cận đại Hồ Dzếnh có câu thơ :

    “Trang sử Việt/ Đồng thời là trang sử Phật/ Trải qua bao độ hưng suy/ Có nguy mà chẳng mất."

    Hay là hai câu thơ của thi sĩ Huyền Không: Mái chùa che chở hồn dân tộc/ Nếp sống muôn đời của tổ tông.

    Thơ ca có phần thi vị hóa thực tế. một phần nào huyền thoại hóa thực tế, nhưng cốt lõi của thực tế vẫn được bảo tồn, cùng với bản sắc dân tộc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào buổi tiếp đoàn đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam sau ngày mới thành lập (1981), có nói một câu mà không rõ vì sao báo chí lúc bấy giờ không nhắc tới : “Trong bụng người Việt Nam nào cũng có ông Phật “. Phật giáo Hòa Hảo tự nhận mình là kế tục đạo Phật,

    Không có một tín đồ Hòa Hảo nào phủ nhận sự kiện này, trái lại còn lấy đó làm tự hào. Cuốn “Để hiểu Phật Giáo Hòa Hảo “của Thanh Sĩ và Vương Kim, in ngay ở trang bìa 4 câu thơ :

    Phật xuất An Giang đủ phép mầu

    Giáo truyền Phật Thích rất cao sâu

    Hòa trong sanh chúng gieo điều thiện

    Hảo ý đưa về kiến Bửu Châu

    Quan hệ giữa đạo Phật nói chung và Phật Giáo Hòa Hảo nói riêng trên bình diện giáo lý và thực hành là một đề tài rộng lớn, không thể bàn ở đây. Chúng tôi chờ đợi ở quý học giả của Phật Giáo Hòa Hảo một công trình khoa học có tầm cỡ về chủ đề này.

    Không riêng nhà Phật học Minh Chi, còn nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu khác như Phạm Công Thiện, đã viết về Đức Huỳnh hoặc về Phật Giáo Hòa Hảo:

    2. Phạm Công Thiện (Nguyên Giáo sư triết học Đại học Vạn Hạnh Saigon)

    ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ LÀ MỘT TRIẾT GIA VIỆT NAM (lược trích trong “Phật Giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc “, Nguyễn Long Thành Nam, Đuốc Từ Bi xuất bản 1991)

    Có lẽ không ai mà không biết Đức Huỳnh Phú Sổ là Đức Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng ít ai biết rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là một triết gia Việt Nam. Chẳng những thế, không phải chỉ triết gia Việt Nam như bất cứ một triết gia nào xứng đáng được gọi là “triết gia “mà Đức Huỳnh Giáo Chủ lại đúng là một minh triết, một thánh triết, trong mọi ý nghĩa cao siêu nhất của danh từ. Khi tình cờ đọc một bộ từ điển bách khoa có thẩm quyền nhất thế giới, bộ Encyclopaedia Britannica, dở qua cuốn 6, trang 181, tôi thấy tên tuổi và cuộc đời sự nghiệp của Đức Huỳnh Giáo Chủ chiếm trên nửa cột chữ in nhỏ trên trang giấy tự điển, mấy hàng chữ đầu đã đập mạnh vào mắt tôi : “Huynh Phu So is a Vietnamese philosopher … “Hiển nhiên mấy hàng chữ tiếp tục cũng xác định thêm rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là nhà cải cách Phật giáo và nhà sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng chính điều xác định đầu tiên của Encyclopaedia Britannica đã làm tôi chú ý đặc biệt : “Huỳnh Phú Sổ là triết gia Việt Nam …”Mặc dù tôi có thói xấu giống như Aldous Huxley là hay thích đọc tự điển như đọc tiểu thuyết (Aldous Huxley rất say mê đọc bộ Encyclopaedia Britannica), nhưng không phải bất cứ cái gì tự điển đã định nghĩa thì tôi tin ngay lập tức ; bản tính cố hữu của tôi là ngờ vực tất cả định nghĩa của tất cả tự điển và từ điển. Tuy nhiên, lúc thấy Encyclopaedia Britannica gọi Đức Huỳnh Phú Sổ là “triết gia Việt Nam “thì tôi bỗng ngừng lại và bắt đầu suy nghĩ. Bao nhiêu âm hưởng bất ngờ xoáy tròn xung quanh một danh từ quen thuộc.

    Từ lâu, tôi đã có thói quen nghĩ rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là một thiên tài tôn giáo dân tộc, là một đại Bồ Tát trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, là tất cả những gì đáng tôn kính trong vị thế của một Giáo chủ một tôn giáo gồm nhiều triệu tín đồ ở Việt Nam. Nhưng tôi chưa nghĩ đến khía cạnh “triết gia “của Huỳnh Giáo Chủ. Hiển nhiên tất cả mọi Giáo chủ tôn giáo đều là triết gia ở một bình diện nào đó, và tất cả mọi triết gia ở trên tất cả bình diện đều không thể là Giáo chủ được, nếu người ta hiểu được tính thể chân chính của triết lý như là triết lý. Một triết gia có thể là một triết gia về tôn giáo với một nền tảng triết lý về tôn giáo, nhưng một nhà tôn giáo học không hẳn bị bắt buộc phải là một triết gia, và nhất là một nhà tu hành tôn giáo và nhất là một Giáo chủ tôn giáo lại không nhất thiết phải cần đến một triết lý nào cả, nhất là thứ triết lý kinh viện nhà trường. Tuy nhiên nếu triết lý được hiểu là triết lý trong tất cả mọi ý nghĩa toàn diện của triết lý thì không có ai có thể chạy thoát ra ngoài cái vòng tròn khủng khiếp của triết lý, dù triết lý được hiểu theo nguyên nghĩa Philosophia hay được hiểu theo nguyên nghĩa Minh triết Đạo lý của Đông phương. Nếu được hiểu theo nghĩa nguyên vẹn toàn diện thì Đức Huỳnh Giáo Chủ đúng là một triết gia Việt Nam vĩ đại mà chỉ có người nào nắm trọn tất cả triết lý Tây phương và đạo lý Đông phương thì mới có khả năng nhìn thấy được tất cả ý nghĩa ẩn hiện của bốn chữ triết lý Việt Nam.

    Một thanh niên Việt Nam mới 20 tuổi mà đã cưu mang tất cả sức nặng bí ẩn của đạo lý Đông phương, đã thể hiện tất cả khả tính có thể có được của tư tưởng Việt Nam, đã thể hiện trọn vẹn tất cả tinh tuý của Mật tông, Thiền tông và Tịnh độ tông, đã thành tựu oanh liệt truyền thống Thiền Lý Trần và Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam, đã nối kết lại tinh thần Phật giáo nguyên thuỷ với đại nguyện và đại hành của lý tưởng Bồ Tát trong Đại thừa, đã đốt cháy lại ngọn lửa thiêng trao truyền từ lục tổ Huệ Năng , đã gây dựng lại với hai bàn tay trắng tất cả những gì cao siêu nhất của dân tộc và của nhân loại trong sự nghiệp tư tưởng và hành động của mình, đã nuôi dưỡng đời sống tâm linh và hùng khí dân tộc cho bao nhiêu triệu người Việt Nam. Một người như thế, chẳng những là một triết gia Việt Nam thôi, mà chính là minh triết, thánh triết cho cả nhân loại.

    3. Giáo sư Phạm Cao Dương (Nguyên Giáo sư Sử học Đại học Sư phạm và Văn khoa Saigon):

    PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CHỦ TRƯƠNG CHẤN HƯNG XÃ HỘI

    Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Phật giáo nói riêng trong những năm cuối của thời kỳ Pháp thuộc, đúng hơn là trong hai thập niên ba mươi và bốn mươi, đã được đánh dấu bởi hai biến cố vô cùng quan trọng. Đó là sự phát sinh của phong trào chấn hưng Phật giáo truyền thống, và sự hình thành của Phật Giáo Hòa Hảo. Cũng là Phật giáo, nhưng hai phong trào này đã có những hoàn cảnh xuất hiện khác nhau, những chủ trương khác nhau, những đường hướng khác nhau, những điều kiện phát triển khác nhau, do đó, đã mang lại những thành quả khác nhau. Có điều cả hai đều đã góp những phần vô cùng tích cực vào sự hình thành của một nền Phật giáo Việt Nam thuần tuý sau khi tôn giáo này đã du nhập vào nước ta từ hơn mười thế kỷ…..

    Nhưng Đức Thầy đã không chỉ chú trọng tới sự suy đồi của Phật giáo mà thôi, Ngài còn chú trọng nhiều hơn tới tình trạng suy đồi của toàn thể xã hội Việt Nam về nhiều phương diện, trong đó có sự suy đồi của cuộc sống đạo đức theo quan niệm bình thường và theo quan niệm của Khổng giáo. Ưu tư về sự suy đồi của đạo đức xã hội này đã được Đức Thầy nói tới rất nhiều trong Sấm giảng. Suy đồi trong quần chúng cũng như suy đồi trong hàng ngũ giới trí thức mới, trong giới trẻ cũng như giới già. Một sự suy đồi đến độ cùng cực khiến cho Đức Thầy phải than rằng:

    Chẳng có người nào tu niệm hiền lương. (Sấm giảng Khuyên người đời tu niệm,câu 768)

    Vì bá tánh thì “nghinh tân yểm cựu"/ Phụ mẹ cha khinh rẻ Phật Trời,/ Chẳng có kể công sanh, dưỡng dục. (Kệ Dân của Người Khùng, câu 83-84)

    4. Trần Nguyên Bình, Giáo sư Sử học

    NHẬN THỨC PHẬT GIÁO HÒA HẢO

    Phật Giáo Hòa Hảo hưởng ứng lời kêu cứu thiết tha của lịch sử dân tôc và lịch sử loài người đứng ra nhận lãnh một sứ mạng. Sứ mạng đó là võ trang tinh thần cho nòi giống để chặn ngăn mọi luồng tư tưởng tà nguỵ từ bốn phương tám nẻo tràn vào, rồi đứng lên trên cái ưu thế của dân tộc Việt đã được giác ngộ qua cơn khói lửa triền miên, mà thiết lập một “niết bàn nơi hạ giới “cho loài người….

    Trong hoàn cảnh đó quân Pháp đến nước ta. Chúng ta có thể đoán ngay rằng thế nước không thể nào giữ được. Một ít phát súng đại bác là quân địch hạ được thành. Những vị anh hùng chỉ còn biết tuẫn tiết để khỏi sống trong cái nhục mất nước. Rồi khi quân Pháp đã đặt được nền móng đô hộ, xã hội lại càng thối nát thêm.

    Dân chúng sống trong mê tín dị đoan. Nơi góc tường này, dưới gốc cây đa kia, người ta thấy nhan nhãn những bàn thờ ông thần, bàn thờ bà chúa. Ốm đau người ta không lo chạy chữa thuốc thang, mà chỉ lo đi cúng đền này phủ nọ, xin tàn hương nước thải về uống, hoặc lập đàn cúng kiếng rước thầy bùa ếm quỷ ếm ma. Có việc khó khăn, người ta không nghiên cứu lẽ thành bại, mà lại đi coi bói toán, hay đi xin quẻ xin xâm. Rượu chè cờ bạc đàng điếm hoành hành khắp nơi. Người ta ca ngợi những ai tiền nhiều bạc lắm, ngày tháng rong chơi, ăn xài lớn. Tất cả những thứ đó, người Pháp không làm gì để bài trừ, lấy cớ họ là dân chủ, không xen vào đời sống riêng tư vào những tục lệ cổ truyền của dân “bản xứ “.

    Nguy hiểm và độc địa hơn nữa là họ đem nước ta cắt ra làm ba khúc, dưới cái danh hiệu ai oán và nực cười là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Mỗi nơi có một nền hành chánh khác nhau để cho sự khác biệt giữa cá tính địa phương (nước nào chẳng có ?) mỗi ngày một sâu đậm hơn. Những xu hướng Nam kỳ tự trị hay Nam kỳ quốc đều là hậu quả của chính sách độc ác chia để trị của thực dân. Hoàn cảnh bi đát ấy của đất nước lồng môt hoàn cảnh quốc tế rất bấp bênh trước một viễn ảnh sắp đổ vỡ tan tành, có thể chôn vùi cả nền văn minh nhân loại. Đó là viễn ảnh thế chiến thứ hai.

    Để cứu vãn tình thế của nước nòi, rộng ra cứu vớt loài người. Phật Giáo Hòa Hảo ra đời, với sứ mạng đem đuốc từ bi đốt cháy mọi mê lầm để dẫn dân Việt từ chỗ đại bi đến đại giác, đứng lên làm cách mạng bằng một đại hành hoàn thành đại đạo cho toàn dân.

    Lý tưởng Phật giáo thật là thích hợp với tư tưởng cốt cán của dân tộc ta, mà Phật Giáo Hòa Hảo lại là một luồng tư tưởng tổng hợp Phật Khổng Lão, một thứ tổng hợp gạn lọc qua tinh thần Tiên Rồng đã làm cho nước nhà thoát ra khỏi âm mưu diệt chủng của người phương Bắc mà thành một quốc gia có một văn hóa riêng biệt, nó chối bỏ tất cả những thứ văn hóa nô dịch, nhưng luôn luôn sẵn sàng hấp thu những tinh hoa của nền văn hóa khác, để tự do dân tộc, tập trung nhân lực, tài lực, vật lực, vùng lên cao cả và đại hùng hoàn thành sứ mạng, thiết lập một “niết bàn nơi hạ giới “. Chỉ lúc đó và chỉ sau lúc đó, Phật Giáo Hòa Hảo mới hoàn thành được sứ mạng của mình: Chừng ấy mới tịnh vô nhứt vật,/ Bụi hồng trần rứt sạch cửa không,/ Chuông linh ngân tiếng đại đồng,/ Ta bà thế giới sắc không một màu.

    5. Học giả Nguyễn Hiến Lê

    Trích HỒI KÝ CỦA HỌC GIẢ NGUYỄN HIẾN LÊ

    Hai anh Tân Phương và Việt Châu (**) đều như tôi rất mừng khi Nhật đổ bộ lên Sàigòn, mong Nhật đuổi Pháp đi, nhưng không thích gì Nhật, không học tiếng Nhật. Tân Phương không làm chính trị, mà Việt Châu cũng vậy, nhưng Việt Châu không nhớ do một cơ hội nào được nghe Thầy Tư Hòa Hảo (tức Huỳnh Phú Sổ) xuất khẩu thành thi, lấy làm lạ, nhất là thấy Thầy như có một ma lực gì kỳ dị, thu phục được rất nhiều người, nên từ ngạc nhiên sinh ra ngưỡng mộ.

    Việt Châu bảo tôi : “Con người đó thật kỳ dị. Mỗi ngày ngồi xe hơi đi mấy trăm cây số, diễn thuyết hai ba nơi, mỗi nơi nói thao thao bất tuyệt trong hai, ba giờ ở giữa trời, trước một đám đông nông dân hằng ngàn người, ai nấy im phăng phắc như nuốt từng lời một, có kẻ khóc mướt nữa. Có lần đương diễn thuyết thì trời đổ mưa, Thầy Tư vẫn nói mà dân chúng vẫn đứng nghe dưới mưa. Lần nào diễn thuyết xong rồi cũng lên xe đi nơi khác liền, không thấy mệt nhọc, vẫn ung dung làm thơ. Mà ăn rất ít, toàn đồ chay. Sinh lực sao mà dồi dào thế ! Sức lôi cuốn, thôi miên quần chúng sao mà mạnh thế “

    Tôi cũng rất ngạc nhiên, cho là một dị nhân, và tôi bỗng nhớ tới Raspoutine thời Nicolas 2 ở đầu thế kỷ, nhưng không nói ra. Raspoutine cũng có sức mạnh phi thường, cũng cò tài thôi miên, nhưng đời sống bê bối, hình dáng ghê tởm, rõ là một nhân vật bất thường, còn Huỳnh Phú Sổ thì ai cũng phục là người nghiêm trang, đạo đức.

    6. Trích dịch từ BỘ TỰ ĐIỂN BÁCH KHOA UY TÍN THẾ GIỚI BỘ (Encyclopaedia Britannica) - Anh Quốc

    Huỳnh Phú Sổ là một triết gia Việt Nam, là người chủ trương chấn hưng Phật giáo và là người sáng lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm 1939.

    Ông bắt đầu thuyết giảng về sự chấn hưng nền Phật giáo, chủ trương sự quay trở lại tinh thần Phật giáo nguyên thủy (Thượng tọa phái : Đạo của những người đã có thành quả tu tập) và nối kết với tư tưởng đại thừa thịnh hành khắp Việt Nam, Ông đề cập sâu đến cách sống mộc mạc, bền bỉ, cùng hình thức thờ cúng đơn giản và sự tự giải thoát. Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là một sự kết hợp giữa đạo Phật và truyền thống thờ cúng Tổ tiên cùng với những nghi thức nuôi dưỡng đời sống tâm linh, cùng những tinh tuý của Khổng giáo và những sinh hoạt thực tiễn phù hợp bản xứ người Việt Nam.

    Bằng lời nói của mình, Ông có khả năng cuốn hút thính gỉả một cách mãnh liệt và được biết đến dưới danh hiệu Ông “Đạo Khùng “. Ông đã tiên đoán chính xác sự thất bại của Pháp trong thế chiến thứ hai và sự xâm chiếm của người Nhật ở Đông Dương.

    Sự thành công của Ông trong vai trò một vị Giáo chủ đã khiến cho những người tín đồ gọi Ông là Phật Sống.

    Nguyên văn bản tiếng Anh: Huynh Phu So, Vietnamese philosopher, Buddhist reformer, and founder (1939) of the religion Phat Giao Hoa Hao:

    He set about preaching Buddhish reform, advocating a return to Theravada (Way of the Elders) Buddhism, from the Mahayana (Greater – Vehicle) form prevalent in Vietnam, and stressing austerity, spartan living, simple worship, and personal salvation. Hoa Hao is an amalgam of Buddhism, ancestor worship, animistic rites, elements of Confucian doctrine, and indigenous Vietnamese practices.

    In speaking, he exerted an almost hypnotic influence over his audiences and became known as Dao Khung (Mad Monk). He predicted with accuracy the fall of France in world war 2, the Japanese invasion of Indochina…

    His success as a prophet led his followers to call him the Phat Song (Living Buddha).

    * Nguồn: www. Britannica. com. Inc

    7. Nhà văn SƠN NAM (trích Tập san Nghiên cứu văn học, số 16 tháng 6 năm 1972)

    Ca dao là tâm ca, trường hợp của những câu sấm, câu vãn ở miền biên giới Việt Miên, gần dãy Thất Sơn, Châu Đốc. Nơi đây văn minh Tây phương xâm nhập trễ và khó khăn, hồi cuối thế kỷ 19 qua đầu thế kỷ 20. Sấm vãn do Phật Thầy Tây An và các giáo chủ nối tiếp trở thành kinh nhựt tụng của mọi gia đình, lúc khẩn hoang nhọc nhằn ở nơi đất thấp chỉ thích hợp với giống lúa thum đưng thuở ấy và vài giống lúa sạ du nhập từ Cao Miên sau này.

    Những bài sấm vãn được truyền tụng, gây tin tưởng cho kẻ đang chịu nhẫn nại là được phước về sau; chịu đựng không có nghĩa là ngồi một chỗ mà chờ ngày tận thế, nhưng phải nhập thế, lo siêng năng trồng tỉa, làm tròn phận sự với cha mẹ, với xã hội, với đất nước, với Phật, nên đọc bộ Kim cổ kỳ quan, các sách về giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo, của hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa để thấy rằng ca dao Miền Nam đã mang sắc thái đặc biệt, hồi đầu thế kỷ ; đã là tín đồ thì ai cũng thuộc vài chục vài trăm câu, gặp những trường hợp khó khăn về sanh kế, về thiên tai thì đem ra mà dẫn chứng, để lấy lòng tin.

    Sấm vãn lưu truyền ở Hậu Giang là ca dao, là văn chương bình dân. Đó là luận đề lớn, để nghiên cứu. Muốn hoàn thành công việc ấy chúng ta cần để nhiều thời giờ đến quan sát tại chỗ, chọn lọc những câu sấm vãn nào được lưu truyền, được nhắc nhở nhiều nhất, trong sinh hoạt hằng ngày.

    Trong hoàn cảnh khó khăn, thầy Đoàn Minh Huyên đã hiện đại hóa đạo Phật, nêu thái độ dấn thân (khẩn hoang, giữ nước). Thầy và Giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo nối tiếp sau này, chẳng những góp công về mặt chính trị, kinh tế để tô điểm vùng đất nghèo nàn, khó sống nhất. Công ơn mà bấy lâu nay chúng ta đánh giá không đúng mức là sự xây dựng về văn chương: đó là những lời khuyến dạy về đạo lý được diễn đạt bằng lời lẽ bình dân, theo văn Nôm và theo thể thơ lục bát. Nhiều đoạn trong sấm vãn đã thật sự trở thành ca dao ở vùng biên giới.

    8. Triết gia Kim Định

    "Tôi vừa đọc xong tập “Phật Giáo Hòa Hảo Yếu Lược”. Gấp sách lại, thấy tự lòng dấy lên một niềm vui đầy hy vọng: đây chính là nơi đại diện cuối cùng của nền văn hóa nông nghiệp.

    Về môi sinh, thì đây là miền nông nghiệp trù phú nhất nước, với năng xuất gần gấp đôi các nơi (3 triệu tấn lúa cho 1.885.000 mẫu, so với suýt soát 17 triệu tấn cho 17.326.000 mẫu trong toàn quốc). Số dân là hai triệu ở khắp trong 15 tỉnh miền Hậu Giang. Đông nhất là Châu Đốc, An Giang, Kiến Phong tức là khối lớn, lại thêm đông đặc và được tổ chức thành hàng ngũ rất chặt chẽ, thì dễ đủ sức đương đầu với mọi thử thách, dù cam go đến đâu. Nhất lại về đàng giáo lý thì đã đạt được nét đặc trưng cao nhất có thể. Trên đời mới thấy xảy ra ở đây là một:

    Đường tu tiến của con người có thể chia làm ba giai đoạn lớn là Hữu Vi, Vô Vi, và An Vi. Hữu Vi đi với Địa. Vô Vi đi với Thiên. An Vi đi với Nhân ...

    Đó là kiện chứng minh bạch dứt khoát. Kiện chứng thứ hai và rất đặc biệt, đó là bản thân Đức Huỳnh Giáo Chủ không là một tăng lữ mà chỉ là một cư sĩ tại gia, là một nhà ái quốc, một nhà đại cách mạng đã lập ra đảng Dân Xã, tức có chủ trương, có sách vở, có cơ cấu tổ chức đầy đủ, không thể nghĩ ngợi gì nữa. Đó quả là một thành tựu, cho tới đó chưa ai hiện thực nổi. Đó là bước từ đạo Phật bước vào đạo Nhân, tức từ Tài Thiên đi sang Tài Nhân.

    Đến khi đi vào chi tiết càng thấy rõ cái bước sang qua xảy ra từ cơ cấu nền tảng, nên rất giống Việt Nho. Thí dụ: Việc nhấn mạnh cần phải học hành, không được tin mù quáng, dù ông thầy có đáng kính mấy cũng phải đưa óc thông minh ra để xét lời thầy trước đã, có nên tin hay chăng. Rất giống Nho đặt Trí lên đầu: Trí nhân dũng.

    Về thờ tự, thì cắt hết mọi phiền toái. Không nhận thầy cúng, thầy tế, thầy bói, thầy phù thủy. Không cho đốt vàng mã. Thờ Phật thì không có tượng, mà chỉ có một tấm vải màu dà để tượng trưng sự hòa hợp nhân loại. Đã không chuông không mõ, không cho dâng cúng chè xôi, thực phẩm. Không cấm sát sinh, chỉ cấm sát sinh để tế. Không có cả chùa, chỉ có “độc giảng đường”, không phải để ở, mà chỉ để giảng đạo, giống như Văn Miếu bên Nho vậy… Quả là một kết tinh của Tam giáo.

    Phật thì đã bỏ tượng, bỏ chùa, chỉ còn tên, và giáo lý để đúng với câu “học Phật tu Nhân”. Thuyết là thuyết Phật, nhưng thực hiện thì lại là Nhân. Đúng ra thì cũng là thực hiện Phật, vì giữa Phật và Nho có rất nhiều mẫu số chung, như “tự lực tự cường”. Phật nói hãy thắp đèn mình mà đi thì Nho cũng nói “doãn chấp kỳ trung”; nền tảng như nhau, nhất là cả hai đều căn cứ trên Đạo Trống để bàn nơi khác.

    Pháp thì sự nhận định tính cách vô thường của các pháp rất giúp vào việc tạo dựng nên tâm hồn xả bỏ, là điều quý vô cùng nơi nhà cai trị, để dễ có lòng thái công là chìa khóa cho sự thành công trong lãnh vực chính trị. Ngoài ra còn một số những điều rất khó có thể hiểu cho người thông thường, như là thuyết “thập nhị nhân duyên”, thì đề ra cho dân kính bái vậy thôi.

    Tăng thì kể như không có. Phật Giáo Hòa Hảo bản chất là tại gia, không nhận sư ni, nhưng theo lối nhu thuận của Nho, là không chống đối, mà chỉ “kính nhi viễn chi”, sau khi dặn dò phòng bị những tăng sư giả mạo, như về việc ma chay giỗ chạp, thì dạy rằng: “giá trị ở chỗ tu tâm”, tự mình cầu nguyện, khỏi đi thuê khoán ai cầu cho…vvv…

    Tóm lại, xét chung nội dung giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo, thì chính là đạo Nhân, nhưng bọc ngoài bằng danh Phật. Thế mà lại giữ được nét sùng mộ nhiệt tính của Phật giáo để đóng góp, nên có thể bù trừ cho đạo Nhân nơi Nho. Đạo Nho là một thứ đạo “ung dung tự tại” vì đạo nhân đã có đủ thiên địa nơi mình, khỏi cần phải bước đi đâu (vạn vật gia bị ư kỷ). Đó là chỗ cao cả nhưng cũng là chỗ yếu kém của Nho. Cao cả cho những tâm hồn có óc siêu lý cảm thấy được an nhiên tự tại: còn đối với đại chúng thì khó thấy được, nên cần có sự thúc đẩy mạnh hơn ...

    Những suy luận trên đây giúp ta thấy cái thiên tài của Đức Huỳnh Giáo Chủ, khi bước từ Phật giáo đi sang tu Nhân. Đó quả là đợt mới của cây Việt mọc lên tự nội, vì Giáo Chủ không có học hành gì (học được hết tiểu học rồi cứ bệnh hoạn liên miên) mà đến 20 tuổi đột nhiên thông suốt đạo lý và bước qua nổi cái bước từ Thiên sang Nhân, một bước đã bao đời không ai bước qua được, thì đủ biết là thiên tài làm cho ta thêm lòng tin tưởng vào sinh lực lớn lao của nòi Việt, để ta mạnh dạn đặt vào tương lai cái nhìn tươi sáng."

    9. BS Trần Nguơn Phiêu (Arlington - Texas)

    GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO


    Đạo Phật là đạo giác ngộ, chỉ lối đưa đường dẫn dắt con người từ cõi đau khổ đến cõi an lạc. Đức Phật tức đức giác ngộ đã vì lòng thường xót chúng sanh, khai ngộ cho tất cả mọi người được giác ngộ như chính đức Phật.

    Ông Huỳnh Phú Sổ đã giảng dạy cho tín đồ một nội dung Phật pháp đúng theo lời chuyển Pháp luân của Đức Phật. Những ai đã có dịp đọc lại cá thuyết giảng của Đức Thầy đều phải khâm phục vì ông đã đem giáo lý nhà Phật đến đại chúng nông dân một cách rất gần gũi nhưng rất trọn vẹn, từ con đường trung đạo đến tam nghiệp, tứ diệu đế đến tứ vô lượng tâm, tứ ân, ngũ giới, lục độ, bát chánh đạo, thập thiện, thập nhị nhân duyên, Đức Thầy chỉ có một chút phần thay đổi trong thứ tự Tứ Ân.Ngoài ra, trọn vẹn nội dung là đúng với những lời Đức Phật đã dạy cho đệ tử của Ngài trong Phật giáo nguyên thủy. Ông Huỳnh Phú Sổ không hề có chủ trương một nền Phật giáo nào khác.Đường vào cõi Phật có ngàn pháp môn. Đức Thầy là người thấu hiểu căn cơ chất phác của người nông dân, là những người ít học. không thể tự lực hành trì các pháp tu tối thắng, tối cao để vượt ra khỏi tam giới, thoát nạn trầm luân trong tam đồ lục đạo. Vì thế nên ông Huỳnh Phú Sổ đã chọn pháp môn Tịnh Độ là một pháp tu phù hạp với căn cơ của người nông dân Nam bộ. Ông khuyên đạo hữu: “Môn Tịnh Độ là môn cứu cánh – rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa”.

    Khi chỉ mới 23 tuổi, ông đã viết bài”Phật là gì?” để tín đồ hiểu rõ hình ảnh đức Phật như Ngài đã tự giới thiệu khi còn tại thế. Ngài là người giác ngộ, một đạo sư chỉ dắt chúng sanh con đường và phương pháp đi đến giải thoát. Ông Huỳnh Phú Sổ đã cho tín đồ sự hiểu biết để họ không bị mê hoặc, tôn sùng Đức Phật như một vị Thần linh.

    Thử đọc lại bài nói trên như một thí dụ điển hình, để biết rõ những lời văn thực tiển, gần gũi của ông Huỳnh Phú Sổ, những lời dạy dễ lãnh hội, đã ăn sâu vào tâm hồn chất phát của người nông dân miền Nam: “ Phật giả là Giác giả(người giác ngộ). Giác giả là tỉnh giả (người tỉnh thức)”.

    Khi Đức Thích Ca thành Phật thì Ngài nói pháp Tứ đế mà độ đời trước hơn các pháp, và chỉ con đường Trung đạo cho người hành theo.

    Đường Trung đạo của Phật:

    Không trưởng dưỡng xác thịt quá ư sung sướng nh7: ăn nhiều, ngủ nhiều, chẳng lo làm công chuyện, chẳng học hỏi, vì sung sướng thái quá thì sanh nhiều dục vọng mê đắm, làm cho trí đạo tối tăm, không đạt huệ được.

    Không nên hành xác hay ép xác thái quá như: phơi nắng dầm sương, bỏ ăn bỏ ngủ, làm lụng quá sức lực của mình, vì ép xác quá độ hay sanh bệnh họa nhiều, người mà đa mang bịnh tật rồi, tinh thần kém cỏi, nhọc mết trí hóa lu mờ, không đủ sức mà học Đạo đặng.

    Nên người biết Đạo, chẳng ép xác thái quá, mà cũng chẳng để nó sung sướng quá độ, chỉ ăn ngủ có chừng mực, làm việc vừa với sức mình, giữ gìn sức khỏe mới mong được Đạo pháp.

    Vậy Phật chẳng buộc ai phải ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung sướng, chẳng ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo trình độ và lòng nhơn của mình. Điều cần yếu là phải:

    “ LÀM HẾT CÁC VIỆC THIỆN

    TRÁNH TẤT CÁC ĐIỀU ĐỘC ÁC

    QUYẾT RỬA TẤM LÒNG CHO TRONG SẠCH”

    Ông Huỳnh Phú Sổ đã có cả triệu tín đồ hưởng ứng tu hành vì Ông đã thuyết giảng đúng trình độ đại chúng bình dân trong đó phần lớn là nông dân, đúng thực trạng xã hội Việt Nam phần đông là ít học, ít hiểu biết. Tuy nhiên, những bài giảng của Ông Huỳnh Phú Sổ mang tính cách bình dân nên không khỏi bị một số Tăng Ni chê là kém cỏi, tầm thường, hoặc giáo lý PGHH không có gì là cao siêu, là chân chánh. Nhưng, những ai hiểu đạo Phật đếu phải công nhận là những bài thuyêt pháp của Ông tuy giản dị nhưng rất trong sáng và chan hòa tư tưởng Phật giáo. Ông chỉ đặc biệt chú trọng nhiều đến Tứ Ân như Phật thầy Tây An. Ngoài ra Ông không có chủ trương đưa ra những tư tưởng Phật học gì mới.

    Trình độ nông dân của 90% tín đồ Ông vào thời khoảng nhiễu nhương 1940 khó có thể thông hiểu được các tư tưởng cao siêu chưa đựng trong thiên kinh vạn quyển của triết lý.

    HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG CỦA PGHH

    Sự thành công đặc thù của PGHH, đưa đến sự hiện diện trường tồn ở miền Nam cho đến ngày hôm nay, mặc dầu trải qua bao nhiêu biến cố tưởng cần phải suy gẫm cặn kẽ hơn.

    Hình thức tín ngưỡng của PGHH là một yếu tố quan trọng. Đây quả là một cuộc cách mạng, đang được nhiều học giả về tôn giáo nghiên cứu.

    Ông Huỳnh Phú Sổ đã thổ lộ trọng trách lâm phàm của Ông là việc phải chấn hưng Phật pháp. Từ ngày chư Tổ bặt truyền y bát đến nay, chơn pháp của Phật bị người đời làm sai tinh nghĩa nên một ngày một suy đồi. Ông tự nhận là đệ tử trung thành của Phật Thích Ca. Lãnh sứ mạng giáo truyền một nền đạo Vô Vi, khác với lối âm thinh sắc tướng của phái Thần Tú. Ông kêu gọi:

    “Khuyên sư vãi mau mau cải hối/ Làm vô vi chánh đạo mới mầu/ Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu. Hãy tìm kiếm cái không mới có”

    Vì thế Ông Huỳnh Phú Sổ chủ trương” theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú... Đạo vô vi của Phật ân cần, noi theo chí Thích Ca ngày trước”.

    Ông Huỳnh Phú Sổ đã đặc biệt tạo nên một nền Phật giáo mới lạ, một nền Phật giáo do các giới Phật tử tại gia điều hành, một nền Phật giáo cấp tiến, không có giới Tăng lữ tham gia. Đức Thầy tuy không chủ trương xây chùa, đúc tượng nhưng trong “lời khuyên bổn đạo” Ông vẫn khuyên tín đồ phải kính trọng giới Tăng sĩ, vẫn khuyến khích đi chùa vào các ngày rằm ngày vía của Đức Phật…Ông đã khéo léo tránh tạo sự bất hòa giữa giới Tăng sĩ và cư sĩ tại gia. Đức Thầy viết: “Hạng tại gia gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội, nên chưa thể làm như các nhà Sư, Ni Cô đặng.Tuy vậy,họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi bác ái đại đồng của nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra. Thế nên, ở tại nhà họ phượng thờ Đức Phật phát nguyện quy y, giữ gìn ít nhiều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn lòng, ủng hộ các Sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải thoát.”…

    Ông đặt trọng tâm vào việc tu tâm sửa tánh, khuyên không nên dựa vào hình tướng, lễ nghi. Hình tướng như tượng Phật, chuông mỏ chỉ là những trợ lực, những phương tiện giúp dễ tu tập nhưng lắm khi sự chấp vào hình tướng lại dẫn đến sự sai lệch đạo pháp. Về thờ phượng, PGHH chủ trương các cư sĩ tại gia nên “ thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn….chỉ thờ một tấm trần màu dà…màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc cá nhân…Màu ấy tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật”……

    Đặc biệt "đối với các tôn giáo khác” đức Thầy đã khuyên tín đồ “không nên đụng chạm đến cách thức tu hành của họ".

    SẤM GIẢNG THI KỆ CỦA HUỲNH PHÚ SỔ

    Có rất ít bậc trí thức được biết là 40 năm về trước. Ông Huỳnh Phú Sổ đã dịch nhiều thi kệ từ tiếng Hán ra Việt ngữ cho tín đồ của Ông. Xin được nhân dịp nầy, thử đọc lại các câu chú thường được niệm, trích ra từ tập Sấm Giảng Thi văn của Ông Huỳnh Phú Sổ:

    “Năng lễ sở lễ tánh không tịch/ Cảm ứng đạo giao nan tư nghì/ Ngã thử đạo tràng như đế châu./ Thập phương chư Phật ảnh hiện trung/ Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,/ Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ”.

    Ông Huỳnh Phú Sổ đã dịch thành thơ như sau, một cách rất sát nghĩa:

    “Sự lạy Phật vốn không, yên tĩnh/ Đạo cảm giao khó tính khôn bàn/ Nay tôi ở trong đạo tràng/ Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc châu./ Mười phương Phật hiện bầu hình ảnh/ Có bóng tôi cũng sánh cùng Ngài,/ Từ chơn cho chí mặt mày,/ Cúi đầu làm lễ nguyện rày quy y”.

    - Về bài “rửa tay”:

    Hán văn: “Dĩ thủy quán tưởng/ đương nguyện chúng sanh/ đắc thanh tịnh thủ/ thọ trì Phật pháp.”

    Ông Huỳnh Phú Sổ viết: “lấy nước, tôi rửa sạch tay/ Nguyện cầu sanh chúng được tay thơm lành/ Ngỏ hầu nắm pháp vô sanh/ Giữ gìn lời Phật ban hành từ xưa”

    - Về bài “thỉnh chuông”:

    Hán văn: Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới / Thiết vi u ám tất giai văn / văn trần thanh tịnh chứng viên thông /nhất thiết chúng sanh thành chánh giác”.

    Ông Huỳnh Phú Sổ viết: “Nguyện tiếng chuông lành thông các cõi/ Thiết vi địa ngục cũng nghe rành/ Nghe rồi thân tịnh, tâm tròn sáng/ Tất cả chúng sanh Phật đạo thành”

    Minh Mẫn (27/12/2012)

  5. #5
    Status : Dòng Đời Đang Ngoại tuyến
    Ngày tham gia : Feb 2012
    Bài viết : 146

    "Thực chất của Đạo Hòa Hảo" phản ánh suy nghĩ bồng bột nhất thời của tăng sinh Thiện

    "Thực chất của Đạo Hòa Hảo" phản ánh suy nghĩ bồng bột nhất thời của tăng sinh Thiện Huệ


    Trên đây đã dẫn chứng những nhận định của các học giả, triết gia, giáo sư sử học, bác sĩ có uy tín và có trình độ về PGHH nói chung và cá nhân ĐứcThầy nói riêng, đủ trả lời cho những gì Thiện Huệ phê phán về Đức Thầy cũng như dân Nam Bộ mà Thiện Huệ cho là đám dân dốt nát.

    Những nhân vật trên đây chắc chắn trình độ không kém hơn Thiện Huệ và đáng là bậc thầy của Thiện Huệ, trong đó có GS Minh Chi.

    Thật ra GS Minh Chi đánh giá “luận văn đạt yêu cầu về mặt “công phu nghiên cứu và sưu tần tài liệu” chứ không phải đạt yêu cầu về kiến thức, văn hóa và nhục mạ kẻ khác. Sở dĩ GS Minh Chi không phủ bác luận văn vì đây là những bài thực tập để đánh giá khả năng viết của một thí sinh sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp, nó chỉ là hồ sơ lưu tại học viện với một thời gian cho phép chờ tiêu hủy; không phải là văn bản chính thức để phổ biến.

    Qua văn bản số 521/CV-HĐĐH của Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM ngày 10/12/2012, gửi cho BTS TW GHPGHH, cho thấy chủ trương của Học viện là “đoàn kết hòa hợp với mọi tổ chức tôn giáo hoạt động hợp pháp” trên lãnh thổ Việt Nam, ở khu vực và trên thế giới….

    Luận văn của Thích Thiện Huệ phản ảnh quan điểm cá nhân. Quan điểm của Học Viện chỉ tán đồng công phu nghiên cứu của Thiện Huệ mà không chấp thuận thái độ phê phán của Thiện Huệ đối với PGHH. Luận văn đã được hủy theo quy định thời gian 10 năm của bộ phận lưu trữ văn phòng. Đây là những văn bản mang tính nội bộ, vì thế không lưu hành. Do Thiện Huệ photo cho những người quen khi đã tốt nghiệp.

    Riêng HT Giác Toàn thay mặt HĐĐH ký, trên nguyên tắc, văn phòng đóng dấu đưa qua, xem như hoàn chỉnh, chỉ có ký!

    360 luận văn tốt nghiệp đã được giáo sư hướng dẫn duyệt xét thì HĐĐH không cần phải đọc lại từng bài, vì làm như thế sái nguyên tắc hành chánh, dẫm chân nhau, tỏ ra không tin tưởng GS hướng dẫn, và HĐĐH không có chức năng đó; ngoại trừ luận văn có vấn đề do GS hướng dẫn yêu cầu HĐĐH xem lại. Chúng ta cũng phải hiểu rằng bộ phận duyệt bài khác với bộ phận ấn ký. Tuy HT Giác Toàn nhận sai sót nhưng cũng không hẳn đã là lỗi của HT ấn ký. Tạm gọi đây là tai nạn nghề nghiệp của bộ phận giáo dục mà HVPGVN tại TP.HCM gặp ngoài ý muốn.

    Trong văn bản phản đối của ông Nguyễn Châu Lang, chúng ta đồng ý sự phẩn uất khi giáo chủ, tín ngưỡng của mình bị xúc phạm, nhưng cũng phải khoanh vùng trách nhiệm mà không nên đổ vạ lây. Ví dụ cố HT T. MINH CHÂU mà ông Nguyễn Châu Lang trích dẫn trong bộ Phật Học từ điển khi giải thích về Đạo PGHH. Đồng ý định nghĩa về PGHH như vậy là sai lầm hoàn toàn. Nhưng cá nhân HT Minh Châu không thể hoàn thành bộ Phật Học từ điển như thế mà do sự hợp tác của nhiều Tăng ni và học giả chia thành từng nhóm phụ trách từng phần A – B – C…Trình độ của người giải thích về PGHH trong tự điển như thế cũng chỉ là trình độ và tâm địa ngang bằng Thiện Huệ mà thôi.

    HT đứng tên đương nhiên phải chịu trách nhiệm, xét cho cùng, HT không thể vửa dịch kinh, vừa giáo dục, vừa quản trị học viện và vừa quán xuyến bộ Phật học từ điển như thế. Nếu chuyên dịch tự điển từ ngoại ngữ như HT T. Quảng Độ thì tương đối cá nhân làm được, nhưng soạn toàn bộ Phật học tự điển Việt Nam như thế thì không cá nhân nào làm nổi. Và những năm sau nầy, súc khỏe HT quá suy, nên trách nhiệm đó HT đã nhường cho các vị kế thừa. Chúng ta trách một Thiện Huệ bốc đồng nông nổi mạt sát kẻ khác thì chúng ta cũng không nên đi vào vết xe đó. Chúng ta có quyền phản đối bằng thái độ ôn hòa như BTS TW PGHH đã làm với BĐĐH học viện vừa qua để tìm cách tháo gỡ những điều bất minh trong tư tưởng của Thiện Huệ.

    Hướng giải quyết của Học Viện:

    - Hội Đồng Điều Hành sẽ báo cáo Ban Thường Trực Hội Đồng trị sự GHPGVN về sự việc nêu trên, đồng thời đề nghị lãnh đạo GHPGVN chỉ đạo BTS nơi Tăng sinh Thiện Huệ thường trú để kiểm điểm, nhận khuyết điểm và xin lỗi BTS TWGHPGHH cũng như tín đồ PGHH về tư duy chưa chín chắn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin tôn giáo, cũng như biều hiện sự chưa quán triệt sâu sắc về chủ trương đoàn kết, thân hữu giữa các tôn giáo của GHPGVN;

    - Trên tinh thần đoàn kết, xây dựng, HĐĐH Học Viện Phật Giáo VN tại TP HCM rất mong nhận được sự cảm thông của BTS TW GHPGHH và tín đồ PGHH đối với việc vô cùng đáng tiếc – ngoài ý muốn nầy. HĐĐH học viện PGVN tại TP HCM xem đây là một bài học kinh nghiệm quý giá trong công tác quản lý, điều hành và không để xẩy ra các vấn đề tương tự như trên.

    Văn bản trên do HT T.Đạt Đạo, thay mặt HĐĐH Học Viện, Phó viện trưởng Hành chánh ký.

    Giữa GHPGHH và BĐĐH học viện đã có cuộc gặp gỡ, làm việc thoải mái, đả thông tư tưởng nhau một cách đoàn kết trong những ngày qua; Đã xác định vấn đề xầy ra ngoài ý muốn.

    Chắc chắn Thiện Huệ cũng phải đích thân sám hối toàn bộ GHPGHH và tín đồ PGHH cho dù GHPGHH có yêu cầu hay không. Đây là việc làm nông nổi của tuổi trẻ muốn thể hiện khả năng dị biệt mà chắc chắn, trong tâm tư Thiện Huệ, một giai đoạn nào đó có những bất an hoặc bất mãn cá nhân. Việc bốc đồng của tuổi trẻ cộng với tính ngạo mạn thường đưa đến những bất trắc trong cuộc sống, nhưng nếu có bất trắc thì chỉ bất trắc cá nhân mình chứ đừng tạo sự bất an liên đới mà giữa GHPGVN và GHPGHH là những thành viên trong một cộng đồng nhà Phật.

    Đây cũng là bài học cho những Tăng Ni trẻ, kể cả những vị giảng sư rút kinh nghiệm, cần tôn trọng tín ngưỡng của nhau. Anh em một nhà mà chúng ta phủ nhận nhau thì kẻ ngoài làm sao ta duy trì được tình thân hữu để cùng tồn tại và phát triển. Có lẽ những Tăng sinh trẻ nói chung và Thiện Huệ nói riêng chưa từng biết anh em PGHH đã có mặt bên cạnh PGVN vào năm 1966 khi mà hai người Phật tử của chúng ta lâm nạn lúc đấu tranh ở Việt Nam Quốc Tự. Tuy anh em ở xa hàng trăm km, khi chư Tăng hữu sự, họ liền có mặt, vì họ là vệ tinh để bảo vệ Phật pháp mà quá khứ từng minh chứng.

    Thiện Huệ là hiện tượng cá biệt, không đại diện cho quan điểm Tăng sĩ Phật giáo cũng như chủ trương của PGVN, vì thế, luận văn của Thiện Huệ chỉ là phản ánh suy nghĩ bồng bột nhất thời của tuổi trẻ mà thôi.

    Minh Mẫn
    (28/12/2012)

  6. #6
    Status : Dòng Đời Đang Ngoại tuyến
    Ngày tham gia : Feb 2012
    Bài viết : 146
    Luận văn gây bức xúc tín đồ PGHH: BTS T.Ư, tín đồ PGHH: "Luôn nêu cao tinh thần hòa hảo"


    Liên quan đến luận văn "Thực chất của Đạo Hòa Hảo", Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo đã ra văn bản đồng tình với hướng xử lý của Hội đồng Điều hành HVPGVN tại TP. HCM đối với tăng sinh Thích Thiện Huệ nhằm ổn định nhân tâm, hóa giải nỗi "bức xúc" hiện nay trong tín đồ PGHH thời gian gần đây.

    Công văn số 3906/CV/BTSTU, ngày 17-12-2012, do ông Nguyễn Tấn Đạt, Q. Trưởng ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo ký, bày tỏ quan điểm cảm thông trên tinh thần "hòa hảo" theo lời dạy của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ sau khi nhận được văn bản của Hội đồng Điều hành HVPGVN tại TP. HCM nêu rõ chủ trương của GHPGVN, quan điểm và hướng xử lý đối với tác giả Thích Thiện Huệ.

    Qua nội dung công văn số 3906 của Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo (*) cho thấy "Thực chất của Đạo Hòa Hảo" là sẵn sàng khoan dung, độ lượng, nhẫn nhịn đối với những suy nghĩ bồng bột, nhất thời của hiện tượng cá biệt - tăng sinh trẻ Thiện Huệ, và luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, hòa hảo cũng như hiểu biết lẫn nhau giữa hai tôn giáo.

    Chùa Phúc Lâm online xin khép lại loạt bài phê bình về luận văn tốt nghiệp HVPGVN tại TP.HCM với đề tài "Thực chất của Đạo Hòa Hảo" của tăng sinh Thiện Huệ bằng việc giới thiệu nguyên văn công văn của Ban Trị sự Trung ương GHPGHH với mong muốn tinh thần "đoàn kết, hòa hảo và hiểu biết lẫn nhau" mãi khắc sâu trong tâm thức mỗi người dân Việt, và luôn được thể hiện một cách sinh động qua văn hóa ứng xử trong thực tế cuộc sống hằng ngày đang diễn ra xung quanh chúng ta.

    Quần Anh

    Kính gửi:

    - Ban Đại diện các tỉnh, thành phố

    - Ban Trị sự PGHH một số xã, phường, thị trấn nơi có dư luận quan tâm đến vấn đề này


    Sáng ngày 7/12/2012, đại diện Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đã tiếp và làm việc với đại diện Ban Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH về "luận văn của tăng sinh Thích Thiện Huệ, thế danh Nguyễn Văn Huệ - khóa IV (1997-2001), đề tài: "Thực chất của Đạo Hòa Hảo".

    Công văn số 3906/CV/BTSTU, ngày 17-12-2012 của Ban Trị sự T.Ư GHPGH

    bày tỏ quan điểm cảm thông trên tinh thần "hòa hảo" theo lời dạy của Đức Thầy Huỳnh Phú


    Qua tìm hiểu, phân tích, trao đổi những sai phạm của tăng sinh Thích Thiện Huệ về mục tiêu, nội dung lẫn phương pháp tiếp cận, lựa chọn đề tài ..., phản ánh quan điểm cá nhân làm ảnh hưởng xấu đến chính sách đại đoàn kết dân tộc, gây thắc mắc trong tín đồ PGHH.

    Trên tinh thần đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau, đại diện Hội đồng Điều hành HVPGVN tại TP.HCM đã xác nhận trách nhiệm chủ quan của tăng sinh, nêu rõ chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bày tỏ quan điểm của học viện đối với luận văn và hướng xử lý đối với Thích Thiện Huệ trong thời gian tới.

    Hội đồng Điều hành HVPGVN tại TP.HCM đã khẳng định những sai phạm của Thích Thiện Huệ là vô cùng đáng tiếc - ngoài ý muốn và xem đây là một bài học kinh nghiệm quý giá trong công tác quản lý, điều hành, hứa không để xảy ra các vấn đề tương tự. Trong buổi làm việc, đại diện Hội đồng điều hành Học viện rất mong nhận được sự cảm thông của Ban Trị sự Trung ương GHPGHH và tín đồ PGHH.

    Thông qua văn bản phúc đáp của HVPGVN tại TP. HCM số 521/CV-HĐĐH ngày 10/12/2012 (đính kèm), Ban Trị sự Trung ương GHPGHH yêu cầu các Ban Đại diện PGHH các tỉnh, thành phố, các Ban Trị sự cơ sở và chư quý đồng đạo hãy sáng suốt nhận định vấn đề, "suy xét minh lý" và phán đoán trên tinh thần "hòa hảo" theo lời dạy của Đức Thầy - nhất là phần "Đối với các tôn giáo khác và nhân sanh" trong tôn chỉ hành đạo.

    Đức Thầy dạy: "Nếu họ có làm dữ với mình thì mình cũng chẳng được phép vì sự dữ của họ mà trả thù, và phải luôn luôn làm lành với họ, mình phải hoài hoài làm phải với những kẻ ấy dầu họ có làm quấy với mình cũng mặc và phải nhẫn nhịn họ".

    Ban Trị sự Trung ương PGHH và toàn thể tín đồ PGHH luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, hòa hảo

    Ban Trị sự Trung ương PGHH và toàn thể tín đồ PGHH luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, hòa hảo, tích cực bảo vệ, gìn giữ sự trong sáng vốn có của nền đạo. Rất mong Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Hội đồng Điều hành HVPGVN tại TP.HCM sớm thực hiện hướng xử lý thỏa đáng đối với Thích Thiện Huệ nhằm ổn định nhân tâm, hóa giải nỗi "bức xúc" hiện nay trong tín đồ PGHH, củng cố tinh thần đoàn kết và hiểu biết lẫn nhau giữa hai tôn giáo.

    Trân trọng chào đoàn kết và xây dựng.

    TM. BAN TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG PGHH

    Q. TRƯỞNG BAN

    (đã ký và đóng dấu)

    Nguyễn Tấn Đạt

    (*) Điều 5, Hiến Chương GHPGHH nêu rõ: "Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo do Đại hội đại biểu tín đồ Phật giáo Hòa Hảo toàn đạo suy cử có từ 21 đến 27 Trị sự viên, nhiệm kỳ là 5 năm, là tổ chức hợp pháp duy nhất của Phật giáo Hòa Hảo, đại diện cho toàn thể tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam."

    Nguồn: Chùa Phúc Lâm online

    * Ý kiến độc giả: Không gì bằng hòa giải, cảm thông và liên kết

    Rất đáng mừng. Không gì bằng hòa giải, cảm thông và liên kết. Bản thân tôi quen biết khá nhiều tín hữu PGHH ở hải ngoại và cũng rất kính trọng họ.

    Giáo lý của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ là giáo lý của Phật Tổ khuyên làm lành, lánh dữ, niệm lục tự Di Đà để cầu vãng sinh.

    Như thế đối với Phật Giáo Việt Nam họ là anh em một nhà.

    Đào Văn Bình

+ Trả lời Chủ đề

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình